THEO DÒNG THỜI SỰ

Tranh cãi về bảng xếp hạng đại học Việt Nam

Một nhóm gồm 6 chuyên gia độc lập đã công bố bảng xếp hạng 49 trường đại học Việt Nam.  Kết quả xếp hạng ngay lập tức thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận và tạo ra sự tranh cãi trong giới chuyên môn.

Thực hiện trong 3 năm

Hiện tại, đại học Việt Nam chưa được xếp hạng một cách định lượng. Trong các bảng xếp hạng đại học uy tín trên thế giới, như: Times Higher Education (THE), World University Rankings (QS), Webometrics… Việt Nam chưa có trường đại học nào lọt vào “Top 1.000”. Trong khi đó, bảng xếp hạng phân tầng đại học thành ba hạng theo Nghị định do Chính phủ ban hành từ năm 2015 cũng chưa thấy được công bố. Do đó, một nhóm chuyên gia độc lập với cơ quan quản lý Nhà nước đã tiến hành đề án xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam, với kỳ vọng báo cáo xếp hạng sẽ trở thành nguồn tham khảo uy tín cho xã hội, tạo ra động lực cải cách cho các trường. Đồng thời, việc xếp hạng sẽ mở ra phương pháp và tiền lệ đánh giá xếp hạng đại học cho các năm tới.

Thành viên của nhóm gồm sáu người gồm: TS Lưu Quang Hưng, nhà nghiên cứu làm việc tại Melbourne, Úc – chủ biên báo cáo xếp hạng; TS Nguyễn Ngọc Anh, Giám đốc và nhà kinh tế trưởng của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách DEPOCEN – đồng chủ biên báo cáo; TS Giáp Văn Dương, nhà nghiên cứu độc lập, Chủ tịch Công ty GiapGroup – người đề xuất dự án xếp hạng; TS Ngô Đức Thế, nhà nghiên cứu đang làm việc tại ĐH Manchester, Vương quốc Anh; ThS Trần Thanh Thủy, nhà nghiên cứu tại DEPOCEN; ThS Nguyễn Thị Thu Huyền, nghiên cứu sinh tại ĐH East Angila, Vương quốc Anh. Trong lần đầu công bố, nhóm đã xếp hạng 49 trường đại học có đầy đủ thông tin nhất trong số dữ liệu hơn 100 trường mà nhóm thu thập được từ năm 2014. Nhóm nghiên cứu thông qua nhiều bước thực hiện, như: Xây dựng tiêu chí, thử nghiệm mẫu số nhỏ, tối ưu hóa tiêu chí, thu thập số liệu ở số lượng mẫu quy mô lớn, xử lý số liệu và thiết lập bảng xếp hạng.

Đồng thời, nhóm chuyên gia độc lập đã tiến hành thu thập số liệu, xây dựng bộ tiêu chí xếp hạng đại học toàn diện tương tự như các bảng xếp hạng đại học uy tín trên thế giới. Tiêu chí xếp hạng dựa trên các nguyên tắc: Phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam, định lượng, khả tín, khách quan và hướng tới chuẩn mực quốc tế. Việc đánh giá được dựa trên chất lượng kết quả của các hoạt động nghiên cứu, như: Đo bằng kết quả nghiên cứu đã công bố, đề tài khoa học… Chất lượng của các hoạt động đào tạo được đo bằng tỷ lệ giảng viên/sinh viên, chất lượng đầu vào… Quy mô cơ sở vật chất, chất lượng quản trị của nhà trường. Tiêu chí xếp hạng của nhóm dựa trên hai nhiệm vụ chính của nhà trường là đào tạo và nghiên cứu khoa học. Hai nhiệm vụ này được đánh giá quan trọng như nhau, nên mỗi bên đều chiếm 40% trọng số. Cơ sở vật chất, chất lượng quản trị nhà trường chiếm 20% trong số còn lại.

Trường ĐH Tôn Đức Thắng có cơ sở vật chất hiện đại nhưng vẫn đứng thứ 23 ở tiêu chí cơ sở vật chất và quản trị.

Kết quả xếp hạng đại học của nhóm được cho là có vài bất ngờ. Kết quả cho thấy, các đại học quốc gia và đại học vùng đều có thứ hạng cao. Ba trong tổng số 5 trường “top” đầu là các đại học quốc gia và đại học vùng ở trung tâm kinh tế, chính trị của cả nước, gồm: ĐHQG Hà Nội đứng ở vị trí số 1, ĐH Đà Nẵng xếp thứ 4 và ĐHQG TP. HCM ở vị trí số 5. Trong “top” 10 trường hàng đầu còn có sự góp mặt của các trường đại học lớn khác là: Học viện Nông nghiệp Việt Nam xếp thứ 3, trường ĐH Cần Thơ đứng thứ 6, trường ĐH Bách khoa Hà Nội thứ 7 và trường ĐH Sư phạm Hà Nội thứ 10. Điều gây ngạc nhiên là một số trường đại học trẻ lại chiếm vị trí cao trong bảng xếp hạng, như trường ĐH Tôn Đức Thắng đứng ở vị trí thứ 2 và trường ĐH Duy Tân xếp thứ 9. Thứ hạng cao chủ yếu đến từ thành tích về công bố quốc tế, phản ánh thành quả của chính sách đầu tư và khuyến khích xuất bản của các cơ sở giáo dục đại học này. Còn các trường đại học thuộc khối Kinh tế nổi tiếng và là lựa chọn của nhiều sinh viên giỏi, lại đều có xếp hạng trung bình, như: Trường ĐH Ngoại thương thứ 23, trường ĐH Thương mại thứ 29, trường ĐH Kinh tế Quốc dân thứ 30 và Học viện Tài chính thứ 40. Riêng trường ĐH Kinh tế TP. HCM nằm ngoài danh sách xếp hạng này. Nguyên nhân được xác định là do sự hiện diện của các trường này trên các ấn phẩm khoa học quốc tế còn mờ nhạt, quy mô đào tạo lớn hơn so với năng lực đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ.

Không có tài trợ

Theo nhóm nghiên cứu, bảng xếp hạng được thực hiện trong gần 3 năm nhưng không có tài trợ, khách quan và không liên quan tới lợi ích nhóm. Trong số 100 cơ sở giáo dục mà nhóm khảo sát, chỉ có 49 cơ sở giáo dục đại học, gồm 5 đại học cấp Quốc gia và cấp vùng, 5 học viện, 39 trường đại học công lập và tư thục được nhóm xếp hạng vì cho rằng, có đủ thông tin. Còn lại những trường chưa có đủ thông tin nên nhóm cũng không tiến hành xếp hạng. Nhóm không đưa vào danh sách các cơ sở giáo dục thuộc khối Công an, Quân đội, Chính trị. Ngoài ra, các cơ sở giáo dục đại học mới thành lập, một số trường liên kết với nước ngoài và một số trường đại học địa phương cũng không được đưa vào, vì thiếu số liệu công khai.

Về tiêu chí nghiên cứu khoa học, nhóm cho rằng, năng lực nghiên cứu khoa học của cơ sở giáo dục đại học có quan hệ mật thiết với số ấn phẩm khoa học của trường. Ở đây, nhóm lấy số lượng công trình khoa học xuất bản trên các tạp chí quốc tế, chuyên ngành và có phản biện làm thước đo đánh giá. Thước đo này đều được các bảng xếp hạng như: THE của tạp chí Times, ARWU của trường ĐH Giao thông Thượng Hải và WUR của tổ chức QS sử dụng. Về giáo dục và đào tạo, nhóm nghiên cứu đánh giá chất lượng giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như: Trình độ và năng lực đội ngũ giảng viên, năng lực lãnh đạo và quản lý, điều hành nhà trường, chất lượng khung chương trình giảng dạy, không gian lớp học… Nhóm dùng số lượng cán bộ giảng dạy, nghiên cứu có trình độ tiến sĩ trở lên được dùng làm thước đo về chất lượng giáo dục. Bên cạnh đó, số lượng sinh viên theo học và chất lượng đầu vào của học viên cũng được đánh giá. Về cơ sở vật chất và quản trị, những cơ sở giáo dục đại học có cơ sở vật chất tốt phải có môi trường sư phạm rộng rãi, thư viện chất lượng. Không gian lớp học chật hẹp sẽ bị đánh giá kém.

Sau khi kết quả được công bố, nhiều ý kiến cho rằng, xếp hạng đại học nhất định phải có tiêu chí về tỷ lệ việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Bởi đây là một trong những tiêu chí rất quan trọng để sinh viên chọn trường. Công bằng mà nói, với giáo dục đại học Việt Nam hiện nay, tiêu chí đầu ra vẫn cần thiết hơn cả. Nếu nhóm nghiên cứu công bố được tiêu chí này thì bảng kết quả này sẽ có giá trị hơn rất nhiều. Hơn nữa, việc xếp hạng chung hai đại học quốc gia với các đại học vùng và trường đại học sẽ không khách quan. Chuyên gia giáo dục đại học Phạm Thị Ly cho rằng, xếp hạng là một con dao hai lưỡi, cả phương pháp lẫn kết quả. Nếu đề ra những tiêu chí, phương pháp xử lý không khách quan đúng đắn thì không phản ánh được năng lực của trường trên phương diện chúng ta định đo lường. Theo TS Phạm Thị Ly, dù nhóm nghiên cứu có nỗ lực trong việc thu thập nguồn dữ liệu đang có nhưng nếu chỉ dựa vào báo cáo của các trường thì không ổn. “Báo cáo đánh giá trong của các trường chắc chắn không đúng sự thật. Đấy là thực tế. Nên nếu xây dựng bảng báo cáo dựa trên số liệu không đáng tin cậy thì kết quả không đáng tin cậy. Rồi tiêu chí dựa trên bài báo nghiên cứu được công bố trên tạp chí ISI. Tôi e rằng, việc đưa ra xếp hạng này nếu dựa trên công bố quốc tế sẽ thúc đẩy các trường chạy theo thành tích thay vì tập trung vào sứ mạng thực sự của họ là tạo ra tri thức, đào tạo sinh viên”, bà Ly nói.

ThS Phạm Thái Sơn, Phó Trưởng phòng Đào tạo, trường ĐH Công nghiệp Thực phẩm TP. HCM đánh giá cao thông tin xếp hạng đại học này. Ông cho rằng, đây là một bước tiến quan trọng trong việc đánh giá các trường đại học do các tổ chức tư nhân thực hiện. Tuy nhiên, trong công bố cần rõ hơn về tiêu chí đánh giá và phương pháp đánh giá. Xếp hạng các trường đại học là kênh thông tin để tham khảo khi chọn trường, nếu thông tin không rõ ràng có thể người học sẽ bị nhầm lẫn. Hiện tại, các trường đại học ở Việt Nam có thể chọn hướng nghiên cứu, ứng dụng hoặc thực hành để làm định hướng phát triển và theo đó, sẽ có những cách đầu tư khác nhau. Ở nước ta, văn hóa đánh giá chưa được phổ biến nên nếu không công bố rõ và thiếu tính phân tích sẽ làm khó người học cũng như ảnh hưởng đến các trường có uy tín lâu nay. Việc xếp hạng nên tiếp tục thực hiện nhưng cần công bố rõ tiêu chí, các trường được chọn để xếp hạng hoặc các trường đăng ký để xếp hạng. Đồng thời, cần truyền thông nhiều hơn để người học, doanh nghiệp nắm rõ, từ đó, có lựa chọn chính xác.

Theo đại diện của trường ĐH Tôn Đức Thắng, kết quả của nhóm nghiên cứu là cơ sở để trường tham khảo và hoàn thiện hơn. “Ai cũng biết, cơ sở vật chất của trường hiện đại, rộng rãi bậc nhất TP. HCM nhưng chỉ xếp thứ 23 ở tiêu chí cơ sở vật chất và quản trị. Điều này khiến vị trí của trường trên bảng xếp hạng bị kéo xuống khá nhiều. Chúng tôi sẽ cố gắng hơn nữa để những bảng xếp hạng lần sau tốt hơn”, vị đại diện này nói.

QUẾ SƠN

Bài viết được đăng trên Báo Sinh Viên Việt Nam số 36, phát hành ngày 11/09/2017:

 

 

 

To Top