THEO DÒNG THỜI SỰ

Tăng tính thực tiễn trong đào tạo Tài chính Ngân hàng

Hiện nay, nhu cầu nhân lực ngành Tài chính Ngân hàng đang tăng trở lại nhưng đòi hỏi khắt khe hơn so với trước đây. Trong khi đó, số lượng sinh viên tốt nghiệp ngành Tài chính Ngân hàng dù khá lớn vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu doanh nghiệp. Do đó, các trường đã tổ chức nhiều mô hình đào tạo mới.

24% doanh nghiệp hài lòng

Hiện tại, cả nước có khoảng 40 cơ sở trong nước đào tạo ngành Tài chính Ngân hàng. Phần lớn các trường đào tạo thiên về lý thuyết chung, chưa chú trọng nhiều đến các kỹ năng, thiếu thực hành và khi tuyển dụng doanh nghiệp phải đào tạo lại. Không những vậy, khả năng chịu áp lực công việc và ngoại ngữ của sinh viên tốt nghiệp cũng còn nhiều hạn chế. Theo TS Lê Đức Thắng, trường ĐH Công nghệ TP. HCM, trong 10 năm qua, hệ thống các tổ chức tín dụng phát triển nhanh chóng, thể hiện qua việc tăng ồ ạt số lượng ngân hàng cũng như các chi nhánh. Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh đã bộc lộ nhiều hạn chế. Trong đó, chất lượng nguồn nhân lực chưa phù hợp với tốc độ tăng trưởng của ngành. Hiện nay, hầu như các ngân hàng đều có trung tâm đào tạo, phục vụ việc đào tạo và đào tạo lại để đáp ứng yêu cầu công việc. Khảo sát thực tế cho thấy, nhân lực trong ngành vừa thừa, vừa thiếu. Nhân lực có trình độ đại học thừa sinh viên mới ra trường nhưng thiếu kỹ năng, yếu kiến thức, khó thích nghi với sự thay đổi. Đồng thời, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao trong nhiều lĩnh vực chuyên sâu, như: Chiến lược phát triển, quản trị rủi ro, đầu tư quốc tế… Ở nhiều lĩnh vực, các ngân hàng phải thuê chuyên gia người nước ngoài.

Sinh viên trường ĐH Tôn Đức Thắng đóng vai khách hàng và nhân viên giao dịch của ngân hàng để xử lý các tình huống thực tế.

Khảo sát từ Viện Nhân lực ngành Tài chính Ngân hàng cho thấy, lượng sinh viên ngành Tài chính Ngân hàng ra trường năm học 2012 – 2013 là khoảng 32.000 người và đến năm 2016 là 61.000 người. Tuy nhiên, lượng sinh viên được tuyển dụng chỉ khoảng 50%. Trung bình, ngân hàng mất khoảng 5 tháng để đào tạo nhân viên mới tuyển dụng, trước khi làm việc chính thức và cần khoảng 12 tháng để nhân viên có thể tự tin thực hiện công việc. Ngoài các trung tâm đào tạo, ít nhất, có 3 ngân hàng Việt Nam đã thành lập trường đào tạo cán bộ của riêng mình, với chương trình đào tạo tự thiết kế, cùng kiến thức, kỹ năng đặc thù theo từng phân khúc khách hàng và ngành nghề mà các ngân hàng đó chú trọng.

Một khảo sát khác được ThS Lê Hoài Ân, trường ĐH Ngân hàng TP. HCM thực hiện trên 350 sinh viên tốt nghiệp trường ĐH Ngân hàng TP. HCM, 30 giảng viên cùng trường và 60 nhà tuyển dụng từ các ngân hàng, công ty chứng khoán, doanh nghiệp địa bàn TP. HCM cũng cho thấy nhiều bất cập. Tác giả chỉ ra 3 yếu tố mà nhà tuyển dụng đánh giá rất thấp ở sinh viên Ngân hàng là: Khả năng làm ra sản phẩm cuối cùng, kiến thức lý luận chuyên ngành, tư duy phản biện. Chỉ 24% nhà tuyển dụng cảm thấy hài lòng về các kỹ năng này, trong khi, đây đều là những yếu tố được cho là quan trọng đối với công việc. Trong đó, các nhà tuyển dụng cho rằng, tư duy phản biện của sinh viên thấp xuất phát từ việc các trường đại học vẫn giảng dạy theo phương pháp truyền thống, truyền tải một chiều. Sinh viên không được hướng dẫn nhiều về khả năng tư duy để giải quyết vấn đề, tình huống. Khảo sát giảng viên trường ĐH Ngân hàng TP. HCM cũng ghi nhận được các ý kiến rằng, không có sự khác biệt đáng kể trong nội dung chương trình đào tạo suốt 5 năm qua và yếu tố thực hành môn học chưa được cải thiện rõ rệt. Bên cạnh đó, nhà tuyển dụng cũng không đánh giá cao khả năng ngoại ngữ của sinh viên, mặc dù ngành Tài chính Ngân hàng là một trong những lĩnh vực có mức độ hội nhập khu vực và toàn cầu cao và ngoại ngữ tốt giúp ứng viên tiến xa hơn.

“Hầu hết các trường đại học có đào tạo chuyên ngành Tài chính Ngân hàng ở Việt Nam đều thiếu hướng dẫn kỹ năng viết cho sinh viên, đặc biệt là viết các văn bản bằng tiếng Anh, vốn là một yêu cầu rất cần thiết trong bối cảnh kinh doanh hội nhập toàn cầu như hiện nay. Ngoài ra, mối quan hệ lỏng lẻo giữa các doanh nghiệp và nhà trường trong đào tạo cũng một lần nữa được đề cập. Rất nhiều lãnh đạo doanh nghiệp cũng là cựu sinh viên từ các trường đại học nhưng các trường không thể khai thác tốt mối quan hệ này. Kết quả khảo sát từ cựu sinh viên cũng cho thấy, hơn 95% sinh viên ra trường không có bất kỳ mối quan hệ hoặc liên hệ với nhà trường. Cựu sinh viên chủ yếu về lại trường để học các bậc cao hơn”, ThS Lê Hoài Ân nói.

Phải tăng tính thực tiễn

Lãnh đạo nhiều trường đại học khác ở TP. HCM cũng cho rằng, chương trình đào tạo nhân lực ngành Tài chính Ngân hàng hiện đang còn nhẹ thực hành, nặng lý thuyết, cơ sở vật chất chưa đáp ứng, thực tập chưa đạt chất lượng… ThS Trẩm Bích Lộc, trường ĐH Sài Gòn chỉ ra, thực tập là cơ hội hiếm có để sinh viên va chạm thực tế nhưng lại chưa được thực hiện hiệu quả. Nguyên nhân là do việc tìm chỗ thực tập cho lượng lớn sinh viên tại các ngân hàng trong cùng một thời điểm không đơn giản nên trường đồng thời khuyến khích các bạn tự tìm. Do đó, sinh viên có xu hướng thực tập chỗ người quen, chỉ để làm báo cáo chứ ít quan tâm chất lượng. Nhiều ngân hàng không dám giao việc cho sinh viên thực tập vì ngại các bạn làm sai, phải gánh trách nhiệm. Doanh nghiệp vì bí mật kinh doanh cũng cung cấp số liệu ảo hoặc không cung cấp cho sinh viên viết báo cáo dẫn đến hiệu quả thực tập giảm sút. “Cần rà soát lại, chỉ cấp phép đào tạo cho những đơn vị đảm bảo được chất lượng đầu ra, tránh tình trạng đào tạo ồ ạt, sinh viên ra trường thất nghiệp hoặc phải làm trái ngành. Đồng thời, tăng đầu tư cơ sở vật chất, do hiện nhiều trường còn thiếu các hệ thống hỗ trợ cho việc học, như: Ngân hàng mô phỏng, thị trường chứng khoán ảo… khiến sinh viên khó hình dung công việc thực tế”, ThS Lộc nói.

Sinh viên tham gia lớp học chuyên viên khách hàng cá nhân tại HUTECH Bank.

Các chuyên gia cho rằng, nhu cầu nhân lực ngành ngân hàng đang có xu hướng tăng lên trong đợt tái cơ cấu ngành ngân hàng giai đoạn 2016 – 2020 nhưng đi kèm với đó là những yêu cầu khắt khe hơn. Điều này đòi hỏi chương trình và phương thức đào tạo cũng phải thay đổi, cập nhật để đáp ứng nhu cầu sử dụng. ThS Bùi Huy Tùng cho rằng, điểm yếu và thiếu của sinh viên tốt nghiệp hiện nay đó là thái độ, kỹ năng và kiến thức thực tế của ngành ngân hàng. Do vậy, các trường cần tăng cường đào tạo những nội dung này cho sinh viên. Giảng viên cũng cần tham khảo các tình huống thực tế, như việc xử lý khủng hoảng truyền thông đối với tình trạng lừa đảo qua mạng, liên quan đến các ngân hàng trong thời gian vừa qua để trang bị cho sinh viên các kỹ năng xử lý tình huống thực tế cần thiết. Các trường cần gắn đào tạo lý thuyết với thực hành tại chỗ. Các ngân hàng nên đẩy mạnh hỗ trợ giảng viên, sinh viên những kiến thức, tình huống xử lý thực tế, để hạn chế việc đào tạo lại sau khi tuyển dụng. Các trường cũng cần phải đào tạo đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ngay trong trường đại học.

Một giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực ngành ngân hàng cũng được nhiều đại biểu đưa ra, đó là gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp. Việc gắn kết doanh nghiệp và trường đại học sẽ tối ưu hóa chương trình thực tập, gắn thực tập với công việc cụ thể. Hiện tại, nhiều giảng viên không có thời gian làm việc thực tế và cập nhật chuyên môn. Do vậy, việc gắn kết này có thể hỗ trợ giảng viên tiếp xúc với thực tế tại ngân hàng. Trên thực tế, nhiều trường đại học đã chủ động lập các trung tâm đào tạo và đảm bảo 100% sinh viên ngành Tài chính Ngân hàng ra trường có việc làm. Chẳng hạn, trường ĐH Tôn Đức Thắng xây dựng phần mềm thực hành nghiệp vụ ngân hàng Corebanking, dưới sự hợp tác của Trung tâm Đào tạo thực hành Viet Victory và Vietcombank. Phần mềm này giúp trường ĐH Tôn Đức Thắng hoàn thiện mô hình ngân hàng mô phỏng và tạo cơ hội thực hành các nghiệp vụ thực tế cho sinh viên ngành Tài chính Ngân hàng, Quản trị Kinh doanh… qua đó, giúp sinh viên tăng lợi thế cạnh tranh trong việc tìm kiếm việc làm, sau khi ra trường. Trong mỗi giờ học, sinh viên đã thay phiên nhau đóng vai giao dịch viên, khách hàng để mô phỏng những tình huống giao dịch thực tế tại quầy và trải nghiệm các thao tác thực hành máy đếm tiền trong phòng ngân quỹ.

Trong khi đó, trường ĐH Công nghệ TP. HCM đã thành lập HUTECH Bank, với sự hợp tác với Công ty Cổ phần Đào tạo Việt Thành Công. HUTECH Bank là đơn vị đào tạo thực hành nghiệp vụ ngân hàng theo từng chức danh cụ thể. Áp dụng mô hình đào tạo bám sát thực tiễn, HUTECH Bank cho phép học viên trải nghiệm các giao dịch, tình huống và thực hành nghiệp vụ, với hệ thống cơ sở vật chất giống như một ngân hàng hiện đại, như: Khu vực đón khách, quầy làm việc cho giao dịch viên, máy tính, máy ATM, CoreBanking – phần mềm lõi ngân hàng được hơn 70% ngân hàng quốc tế tin dùng… Chương trình đào tạo tại HUTECH Bank là sự bổ sung các kỹ năng, nghiệp vụ cần thiết, bên cạnh khối lượng kiến thức chính quy được học trong chương trình đại học, đảm bảo sau khi tốt nghiệp, học viên có thể đảm nhận ngay công việc trong các ngân hàng, với chức danh đào tạo tương ứng. HUTECH Bank đảm bảo cơ hội việc làm tại các ngân hàng cho 100% học viên. Đến nay, đã có 6 ngân hàng như: HD Bank, Eximbank, VietCapital, Nam Á Bank, An Bình Bank, Maritime Bank ký kết với HUTECH Bank biên bản ghi nhớ về việc tuyển dụng học viên của chương trình, ngay tại lễ khai trương.

QUẾ SƠN

Theo đại diện của Sacombank, mỗi vị trí tại ngân hàng có yêu cầu về kiến thức và kỹ năng khác nhau. Sinh viên cần tìm hiểu để có thể tự trang bị cho mình. Hơn nữa, cùng một vị trí nhưng yêu cầu mỗi ngân hàng mỗi khác nên rất khó để chương trình đào tạo của trường có thể đáp ứng cho tất cả. Điều quan trọng là các trường tạo môi trường và hình thành trong sinh viên thói quen tự học, tự đào tạo. Ở các trường đều có các câu lạc bộ kỹ năng nghề nghiệp và thực tế tuyển dụng cho thấy, những sinh viên từng tham gia các câu lạc bộ này đều có khả năng tự học, cơ hội thành công cao hơn.

Bài viết được đăng trên Báo Sinh Viên Việt Nam số 17, phát hành ngày 01/05/2017:

To Top