Chất lượng giáo dục đại học phải đi cùng với điều kiện vật chất

Quế Sơn - 12/15/2018 8:27:27 AM
Ngay cả trường đại học được đánh giá là tốt nhất cả nước là trường ĐH Bách khoa (ĐHQG TP. HCM) cũng cần nâng gấp ba lần số phòng học, phòng thí nghiệm, xưởng... để đáp ứng được số lượng sinh viên hiện có.

Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài TP. HCM vừa tổ chức Hội nghị “Kiều bào góp ý về chương trình nâng cao chất lượng giáo dục đại học, cao đẳng trên địa bàn TP. HCM”. Hội nghị thu hút sự tham dự của gần 100 chuyên gia giáo dục đại học, nhà khoa học Việt kiều và lãnh đạo các trường đại học, cao đẳng tại TP. HCM.

 

Dưới chuẩn

Theo thống kê của Bộ GD - ĐT, Việt Nam đang có 235 trường đại học và 1,76 triệu sinh viên. Với dân số hiện nay là 96 triệu người thì Việt Nam đang ở mức 181 sinh viên/10.000 dân, chiếm 1,81% dân số. Riêng tại TP. HCM, có khoảng 60 ngành đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng được công nhận đạt chuẩn kiểm định quốc tế, trong đó, chuẩn kiểm định khu vực ASEAN là ưu tiên. Tập trung 4 ngành công nghiệp trọng yếu, nhóm các ngành công nghiệp phụ trợ và 9 ngành dịch vụ chủ yếu.

 

Tuy nhiên, các chương trình đào tạo hiện nay cho dù được công nhận đạt chuẩn kiểm định khu vực ASEAN hay quốc tế cũng không thật sự đạt chất lượng phục vụ mục tiêu đào tạo nhân lực cho các ngành công nghiệp trọng yếu của TP. HCM và cả nước.

 

Theo PGS Nguyễn Thiện Tống, chương trình đào tạo với những môn, chuyên ngành dày đặc dẫn đến việc nhồi nhét kiến thức kinh nghiệm và quy trình sản suất có sẵn, là một trong những nguyên nhân khiến sinh viên mất hứng thú học tập và không đủ năng lực nhận thức độc lập và tư duy sáng tạo sau khi tốt nghiệp. Chương trình đào tạo các ngành khoa học kỹ thuật của nước ta quá lạc hậu so với chương trình đào tạo ở các tiên tiến. Điều này sẽ khiến sinh viên ra trường không thật sự đạt chất lượng cho các ngành công nghiệp, doanh nghiệp trọng yếu trên địa bàn cũng như cả nước.

 

GS Đặng Lương Mô (kiều bào tại Nhật, giảng dạy tại trường ĐH Hoise Tokyo) đặt vấn đề chất lượng giáo dục đại học phải đi cùng với điều kiện vật chất. Ông so sánh, Việt Nam có 1,76 triệu sinh viên nhưng chỉ có 235 trường đại học, trong khi Nhật Bản có hơn 2,5 triệu sinh viên  nhưng có tới 781 trường đại học. Số liệu này cho thấy, một số đại học Việt Nam có số sinh viên rất đông, không đảm bảo cơ sở vật chất và thành phần giảng dạy để đảm bảo chất lượng giáo dục.

 

Dẫn chứng các tiêu chí về cơ sở vật chất đại học ở Nhật, ông Mô nói điều kiện vật chất để làm thành một đại học có chất lượng cao gồm trường có phòng ốc đầy đủ với diện tích 6 - 10m2 cho mỗi sinh viên, số lượng giảng viên có trình độ tiến sĩ với tỷ số giảng viên - sinh viên là 1 - 10. Từ hai điều kiện này sẽ dẫn đến điều kiện thứ ba là thu hút được đông đảo sinh viên ưu tú. Áp dụng các điều kiện này với trường ĐH Bách khoa (ĐHQG TP. HCM), một trường được ông Mô đánh giá là tốt nhất ở Việt Nam thì trường đại học này vẫn chưa đạt tiêu chuẩn.

 

Chất lượng giáo dục đại học phải đi cùng với điều kiện vật chất

 

Theo ông Mô, thứ nhất, hai cơ sở của trường này tại quận 10 và Thủ Đức quá cách xa nhau, không đáp ứng tiêu chí giao thông trong vòng 30 phút bằng phương tiện giao thông đại chúng. Tổng diện tích xây dựng chỉ đáp ứng được hơn 35% theo yêu cầu của Bộ GD - ĐT về điều kiện xin mở đại học. Họ cần nâng gấp ba lần số phòng học, phòng thí nghiệm, xưởng... để đáp ứng được số lượng người học hiện có.

 

Thứ hai, trường có 930 giảng viên, trong đó 9 giáo sư, hơn 100 phó giáo sư, 338 tiến sĩ, 443 thạc sĩ. Với số giảng viên này, trường chỉ nên đào tạo từ 9.300 đến hơn 13.000 sinh viên, thay vì hơn 24.000 người như hiện nay, chưa kể học viên sau đại học.

 

Nhìn rộng hơn, GS Đặng Lương Mô phân tích, Nhật Bản có 131 năm lịch sử đại học, Việt Nam là 111 năm. Tuổi đời không hơn nhau bao nhiêu nhưng nhờ phát triển, tuân thủ các điều kiện vật chất chặt chẽ, Nhật đã có những thành tựu vượt bậc là 24 giải Nobel trải rộng khắp các lĩnh vực và 3 huy chương Field cho Toán học.

 

“Do đó, chúng ta cần thay đổi hoặc thêm một vài tiêu chí về đánh giá đại học để có một bức tranh toàn diện hơn. Hiện tại, các trang mạng của đại học đề cập nhiều ngành đạt chuẩn AUN - QA hay ABET... nhưng đây chỉ là đánh giá chất lượng của một vài bộ phận chứ không phải toàn bộ đại học. Những đại học luôn có mặt trong các bảng xếp hạng hàng đầu thế giới như Harvard, Yale, Oxford, Cambridge, Tokyo... hầu như không bao giờ quảng cáo đạt chuẩn nọ chuẩn kia nhưng luôn được đánh giá rất cao”, GS Đặng Lương Mô nói.

 

Phải đào tạo lại

Ông Peter Hồng (kiều bào tại Úc, Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài) cho rằng, chất lượng sinh viên ra trường còn kém, doanh nghiệp thường mất 6 tháng đến một năm để đào tạo lại.

 

Để nâng cao tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng có việc làm phù hợp với ngành nghề đào tạo thì công tác hướng nghiệp phải được đặt lên hàng đầu, cần được thực hiện cho học sinh từ lúc còn nhỏ, phát hiện sớm năng khiếu và đam mê, tạo cơ hội cho học sinh quan sát, mô phỏng và tiếp cận môi trường làm việc trong các ngành nghề và lĩnh vực mà chúng quan tâm.

 

Công tác tuyển sinh đầu vào, ngoài việc xét tiêu chí về điểm số cần bổ sung thêm các nội dung kiểm tra về tính cách của học viên để xem có phù hợp đối với ngành nghề đăng ký dự tuyển hay không và cuối cùng là động lực học tập có phù hợp hay không. Nếu đảm bảo được công tác tuyển sinh đầu vào như vậy thì tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng có việc làm phù hợp với ngành nghề đào tạo chắc chắn sẽ rất cao.

 

Muốn nâng cao chất lượng và thứ hạng của các trường đại học, cao đẳng kinh nghiệm từ Úc cho thấy, cạnh tranh và hợp tác, trong đó có hợp tác quốc tế, chính là bí quyết để thành công của các trường đại học ở đất nước có nền giáo dục tiên tiến này.

 

Điều làm nên chất lượng của các trường đại học ở Úc là sự tiên phong trong công tác nghiên cứu khoa học. Các trường đại học phải thể hiện được độ sâu trong công tác nghiên cứu và giảng dạy, chất lượng đạt chuẩn ít nhất ba chuyên ngành.

 

“Hệ quả tất yếu của vấn đề chất lượng trường đại học là tình trạng du học sinh tăng vọt lên trong mấy năm gần đây. Con số 13 quán quân chương trình “Đường lên đỉnh Olympia” khi du học ở Úc đều ở lại đây làm việc. Tôi có động viên một cháu về nước nhưng sau đó một thời gian, cháu lại xin quay lại Úc. Tại sao đến giờ chúng ta chưa làm được câu chuyện đào tạo đại học chất lượng, tại sao mỗi năm mất 3 - 4 tỷ đôla cho du học?”, ông Hồng nói.

 

Ông Danny Võ Thành Đăng (kiều bào tại Singapore) cho rằng, hiện nay, đại đa số giới trẻ đang thiếu kỹ năng mềm trầm trọng. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến trình trạng thất nghiệp sau khi tốt nghiệp đại học.

 

Ông Đăng nêu ra giải pháp cho vấn đề nâng cao nguồn nhân lực sau khi tốt nghiệp đại học, cao đẳng tại Việt Nam. Thứ nhất, việc lựa chọn giảng viên cơ hữu nên tích cực liên hệ và hợp tác với các giảng viên doanh nhân… để mang đến cho người học kiến thức đa chiều, thực tiễn về kỹ năng mềm.

 

Thứ hai, bài giảng dạy phải được cập nhật thường xuyên thực tế, đưa việc cải thiện ứng xử, đối nhân xử thế, biến hóa từ người bình thường thành phong cách chuyên nghiệp, thiết thực phù hợp nhưng không kém tinh tế. Thứ ba, các trường nên tạo điều kiện để người học có cơ hội thực hành, vận dụng những gì đã học vào tình huống thực tế của bản thân.