THEO DÒNG THỜI SỰ

Sau 3 năm tự chủ đại học: Vẫn còn nửa vời

Nút thắt quan trọng nhất cần được tháo gỡ hiện nay là chính sách về tự chủ nhân sự và tài chính để giúp các trường đại học công lập tự chủ có nguồn lực phát triển.

Tự chủ một nửa

Theo thống kê của Bộ GD – ĐT, cả nước đang có 23 trường đại học công lập triển khai thí điểm tự chủ ở các mức độ khác nhau. Đại diện một số trường đại học cho rằng, các cơ chế, quy định liên quan đến việc tự chủ hiện vẫn còn nhiều bất cập. Trong đó, những hạn chế về quyền tự chủ trong việc tổ chức bộ máy nhân sự và tài chính khiến không ít trường gặp khó khăn trong quá trình hoạch định kế hoạch phát triển, chương trình đào tạo. Lãnh đạo nhiều trường đại học đang thực hiện cơ chế tự chủ cho rằng, việc tự chủ hiện nay còn nửa vời, dù đã giao cơ chế nhưng các trường vẫn bị quản nhiều. Do đó, trong lần sửa đổi Luật Giáo dục Đại học sắp tới, cần có những cơ chế thông thoáng hơn về tự chủ.

Trên thực tế, dù đã có một số văn bản “cởi trói” cho các trường được thí điểm tự chủ nhưng do tất cả các văn bản đó đều không thể vượt qua luật, nhất là Luật Giáo dục Đại học, Luật Đầu tư công, Luật Khoa học Công nghệ… Các trường đại học tự chủ vẫn cho rằng, cơ sở pháp lý về tự chủ đại học chưa vững chắc và thiếu đồng bộ. Nghịch lý là trong khi các trường thí điểm tự chủ cần triển khai thực hiện theo Nghị quyết 77/NQ – CP năm 2014 của Chính phủ thì được hướng dẫn làm theo quy định hiện hành.

Theo PGS. TS Phan Thị Bích Nguyệt, Phó Hiệu trưởng trường ĐH Kinh tế TP. HCM (trường đầu tiên được giao cơ chế tự chủ), bên cạnh một số cơ chế khá mở, như được nhập khẩu giáo trình, việc mở mã ngành nhanh hơn thì trường vẫn gặp rất nhiều khó khăn khi triển khai. Vướng mắc lớn nhất là chính sách thuế chưa rõ ràng. “Chúng tôi nghĩ rằng, muốn tự chủ tốt thì không thể chỉ dựa vào nguồn thu từ học phí nhưng hiện vẫn chưa có hành lang pháp lý rõ ràng trong việc cho phép các trường đại học được huy động thêm nguồn lực từ xã hội”, bà Nguyệt nói. Tương tự, trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP. HCM cũng là trường thuộc khối Sư phạm đầu tiên thực hiện tự chủ đại học. Tuy nhiên, PGS. TS Đỗ Văn Dũng, Hiệu trưởng nhà trường nói, để đạt được kết quả lớn như hiện tại là cả một quá trình nhưng nếu như không “xé rào” thì trường không thể có được những thành tích tốt như hôm nay. Cái được lớn nhất là vấn đề tự chủ học thuật, các trường có thể mở ngành kịp thời với cơ chế ngành nghề đang phát triển. Tuy nhiên, vấn đề tồn tại lớn nhất là tư duy: “Chúng ta đang ở trong cơ chế thị trường nhưng từ cán bộ đến giảng viên, bước chuyển tư duy đều không theo kịp. Mặc dù trường đã thực hiện tự chủ nhưng nhiều người vẫn còn tư duy bao cấp. Do vậy, tôi đề nghị, phải đưa vào Luật việc bãi bỏ cơ chế bộ chủ quản. Có như vậy, tư duy người lao động mới năng động hơn. Hoặc là Nhà nước chỉ nên quản 50%, còn lại chia cổ phiếu cho người lao động. Khi người lao động cảm nhận được họ là chủ ngôi trường thì mới cố gắng phấn đấu, chứ nếu quản lý theo kiểu này thì không ổn. Tự chủ hiện nay rất nửa vời, làm gì cũng phải xin phép. Vừa rồi, trường lát cái sàn gạch cũng phải xin phép bộ chủ quản thì vô lý hết sức”.

Sinh viên trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM trong giờ học.

Ở một trường thực hiện tự chủ khác, trường ĐH Luật TP. HCM, vướng mắc lớn nhất cũng là về nhân sự. GS. TS Mai Hồng Quỳ, Hiệu trưởng nhà trường cho biết, do chỉ tiêu viên chức rất hạn hẹp nên khi tuyển dụng, trường ưu tiên chỉ tiêu cho giảng viên, còn các vị trí khác như chuyên viên, kỹ thuật thông thường thì đưa vào dạng hợp đồng lao động để có thể linh động thay đổi nội dung và yêu cầu công việc… “Vừa rồi, khi thực hiện thanh tra cơ chế dân chủ thì cơ quan kiểm tra quy định, tất cả việc tuyển dụng phải theo một cơ chế chung, nên chúng tôi gặp khó khăn. Mới đây, trường có thảo luận để ký kết với hai chuyên gia nước ngoài làm giảng viên cơ hữu của trường. Khi bàn về lương, trường rất e dè, vì nếu tự ý ký hợp đồng như vậy không biết có vi phạm không, thực sự trường không biết đã được tự chủ đến mức ấy chưa? Tôi nghĩ rằng, những cái liên quan đến tự chủ thì nên cho cơ chế mở, thoáng, đặc biệt là việc tuyển dụng nhân sự, chúng tôi cần có được cơ chế ký kết hợp đồng mềm dẻo để tuyển dụng người tài”, bà Mai Hồng Quỳ nói.

Hiệu trưởng trường ĐH Luật TP. HCM cũng cho rằng, tự chủ đại học có hai mảng quan trọng nhất hiện nay là tự chủ về công tác nhân sự và tự chủ về tài chính. Nếu chưa giải quyết được hai nút thắt này thì tất cả những vấn đề tự chủ đại học đều không có ý nghĩa gì cả. Nên cho phép nhà trường có quyền đánh giá năng lực làm việc và có cơ chế linh hoạt để được sử dụng người tài. Đồng thời, phải có giải pháp căn cơ vấn đề tự chủ trong tổ chức hành chính. Luật Giáo dục Đại học, đưa ra các phòng ban, khoa, bộ môn… theo cơ chế liệt kê. Trong khi đó, các tổ chức trong một trường đại học có thể phát sinh bất cứ lúc nào. Còn cơ chế tự chủ tài chính hiện nay không có gì khác so với trường bình thường, chưa có chuyển biến gì đáng kể.

Chưa được cụ thể hóa

Đứng ở góc độ nghiên cứu, PGS. TS Phạm Duy Nghĩa, Trưởng khoa Luật, trường ĐH Kinh tế TP. HCM thẳn thắng phân tích, trước đây, các trường đại học công lập được coi là đơn vị hành chính sự nghiệp thì nay coi như một doanh nghiệp Nhà nước. Đây là xu hướng làm cho nền giáo dục đại học nước ta ngày càng manh mún, phân tán và chất lượng không so được với ai. Để quá trình tự chủ trong các trường đại học thời gian tới được thể hiện đúng thực chất thì cần giải quyết hài hòa các vấn đề liên quan, nhất là mối quan hệ giữa quyết định chi ngân sách đầu tư cho giáo dục, mức học phí và cơ chế tạo nguồn thu. Trong giai đoạn hiện nay, học phí được xem là giải pháp chủ yếu nhằm chia sẻ chi phí giáo dục đại học. Vì thế, mức thu học phí cần được tính toán dựa trên chất lượng đào tạo nhưng phải đảm bảo bù đắp đáng kể cho các chi phí hoạt động của trường đại học.

Lãnh đạo nhiều trường đại học tại TP. HCM cũng cho rằng, để tự chủ đại học thời gian tới được thể hiện đúng thực chất thì cần giải quyết hài hòa các vấn đề liên quan, đó là mối quan hệ giữa quyết định chi ngân sách đầu tư cho giáo dục, mức học phí và cơ chế tạo nguồn thu, trong đó, quan trọng nhất vẫn phải nâng cao quyền tự quyết và tự chịu trách nhiệm cho các trường đại học áp dụng mô hình tự chủ. Theo Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, mặt hạn chế hiện nay trong việc triển khai tự chủ là nhận thức của cả cơ quan quản lý Nhà nước lẫn cơ sở đại học còn chưa đầy đủ và thống nhất. Nhiều đơn vị cho rằng, tự chủ đại học là quyền đương nhiên mà cơ sở đại học phải được hưởng, mà không thấy rằng, trường đại học có được tự chủ hay không và mức độ tự chủ đến đâu thì phải phụ thuộc vào năng lực của nhà trường, nghĩa là phụ thuộc vào việc nhà trường đáp ứng các tiêu chí về chi phí, đầu ra hoặc kết quả hoạt động. Về phía các các cơ quan quản lý Nhà nước, vấn đề tự chủ đại học hiện chủ yếu được tiếp cận từ góc độ tài chính mà chưa chú trọng đến việc thực hiện các nội dung khác, như tổ chức, nhân sự và học thuật.

Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội cũng chỉ ra, cơ chế, chính sách pháp luật về thực hiện tự chủ đại học không nhất quán, đồng bộ. Khung hành lang pháp lý cho việc thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với cơ sở đại học còn bộc lộ vướng mắc, bất cập. Trong đó, bất cập lớn nhất trong các văn bản pháp luật hiện nay là không cụ thể hóa được nội dung tự chủ đại học là gì. Luật Giáo dục Đại học và các văn bản liên quan hầu như không có các điều khoản quy định. Việc giao thí điểm tự chủ toàn diện cho các trường hiện chủ yếu dựa trên đề án của từng trường mà chưa dựa trên căn cứ đánh giá thống nhất, trong khi năng lực tự chủ của các cơ sở giáo dục không đồng đều, chưa gắn tự chủ với đổi mới quản trị và trách nhiệm giải trình.

Đánh giá kết quả thí điểm tự chủ, GS. TS Phùng Xuân Nhạ, Bộ trưởng Bộ GD – ĐT cho rằng, tự chủ đại học ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Trong đó, chính sách, pháp luật về tự chủ chưa đồng bộ, cơ chế quản lý theo chế độ bộ chủ quản không còn phù hợp. Các trường được giao thí điểm tự chủ vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tự chủ đại học, chưa chuẩn bị tốt các điều kiện để thực hiện tự chủ. Năng lực quản trị đại học của nhiều trường chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Cơ chế bảo đảm tính công khai, minh bạch, nâng cao trách nhiệm giải trình với các bên liên quan chưa hiệu quả. Hiện vẫn còn 4 trường thí điểm tự chủ nhưng chưa thành lập Hội đồng trường.

QUẾ SƠN

GS Phạm Phụ (trường ĐH Bách khoa, ĐHQG TP. HCM) tính toán, chi phí đầu tư đào tạo mỗi sinh viên ở nước ta còn thấp, trung bình khoảng 1.000 đôla/sinh viên/năm và mức học phí này không thể đào tạo được chất lượng lao động đủ sức cạnh tranh. Do đó, cần từng bước tăng mức học phí, sao cho đóng góp của người học chiếm từ 50 – 55% chi phí đầu tư đào tạo mỗi sinh viên. Để thực hiện điều này, Nhà nước cần phát triển các quỹ có quy mô đủ lớn để sinh viên vay vốn, thực hiện nhiều chính sách phúc lợi để đảm bảo công bằng xã hội, không để sinh viên có đủ trình độ nhưng không theo học được vì lý do tài chính.

Bài viết được đăng trên Báo Sinh Viên Việt Nam số 1, phát hành ngày 01/01/2018:

 

To Top