GIẢI TRÍ

Lối thoát duy nhất

State Theater, xây dựng từ năm 1952, từng được gọi là “lâu đài phim ảnh” và là biểu tượng cho thời kỳ hoàng kim của nền điện ảnh Hồng Kông. Giờ đây, nó chỉ còn là phế tích lưu giữ chút ký ức le lói về một “Hollywood Phương Đông” đã mất.

Những ngày tươi đẹp

“Nếu rạp phim này bị phá bỏ, đó sẽ là điều rất, rất buồn!”,đạo diễn Châu Tinh Trì, chủ nhân của The Mermaid (Mỹ nhân ngư),thu về đến 500 triệu đôla ở Trung Quốc vào năm 2016, nói trong chiến dịch kêu gọi bảo vệ State Theater. Như nhiều người khác trong “thế hệ vàng” của điện ảnh Hồng Kông, Châu Tinh Trì lớn lên với các kỷ niệm đẹp đẽ ở State Theater, trong những ngày tháng huy hoàng thập niên 1980 và 1990. Đó là lúc Hồng Kông sản xuất đến 200 phim/năm, chỉ đứng sau Mỹ và Ấn Độ. Với “đặc sản” là các phim hài/võ thuật, xã hội đen, kể cả “phim cấp ba” (thể loại pha trộn giữa phim khiêu dâm và điện ảnh thực sự), phim Hồng Kông được đón nhận rộng rãi khắp châu Á và cả nhiều nước phương Tây.

Có rất nhiều yếu tố góp phần xây nên thành tựu này. Từ thập niên 1950, Hồng Kông đón nhận một lượng lớn đạo diễn và diễn viên tài năng từ Trung Quốc sang để tránh cuộc nội chiến, nhờ đó kế thừa được tinh hoa từ điện ảnh tiếng Quan Thoại ở Thượng Hải. Đây cũng là giai đoạn Anh và các nước phương Tây đổ tiền để biến Hồng Kông thành công xưởng sản xuất phim xuất khẩu sang Đông Nam Á. Có nhân lực và nguồn vốn, điện ảnh Hương Cảng từng bước một xây dựng bản sắc riêng, chuẩn bị cho cú bùng nổ vào thập niên 1980.

Ten years (Mười năm).

Hai cái tên có ảnh hưởng lớn nhất thời kỳ này là Từ Khắc và Vương Tinh. Từ Khắc là người nâng tầm dòng phim võ thuật, khi kết hợp nhuẫn nhuyền các thế võ, nghệ thuật xiếc và hý khúc, để tạo ra các tác phẩm khác biệt, như:A Better Tomorrow (Anh hùng bản sắc, 1986), A Chinese Ghost Story (Thiện nữ u hồn, 1987), hay Wong Fei Hung (Hoàng Phi Hồng, 1991). Vương Tinh lại là tượng đài ở dòng phim hài, với tác phẩm mang tính đột phá, như God of Gamblers (Thần bài, 1989). Ông cũng là người phát hiện và đưa Châu Tinh Trì trở thành “vua hài” Hồng Kông, với rất nhiều bộ phim “nhại” (parody) các “bom tấn” Hollywood. Ở thể loại nghệ thuật và tình cảm, Vương Gia Vệ và Quan Cẩm Bằng không hề kém cạnh, với rất nhiều phim chất lượng.

Nhưng lý do để điện ảnh Hồng Kông được mệnh danh “Hollywood Phương Đông” còn đến từ hệ thống sản xuất chuyên nghiệp. Giống như Mỹ, họ xây dựng được cột trụ là bốn hãng phim lớn, có thể gọi là “The Big Four” của Hồng Kông: Shaw Brothers, Golden Harvest, D&B Films và Cinema City. Không chỉ sản xuất, bốn hãng này còn điều hành rạp chiếu, phân phối sản phẩm linh hoạt, cũng như rất biết cách thu hút nhân tài. Họ sẵn sàng trả cátsê rất cao cho các ngôi sao, từ đó thu hút thêm khán giả. Năm 1992, nữ diễn viên Củng Lợi đã vô cùng sửng sốt khi được trả ngay 1 triệu nhân dân tệ tiền mặt, khi tham gia Flirting Scholar (Đường Bá Hổ điểm Thu Hương) cùng Châu Tinh Trì. Cô nói với bạn trên đường đến ngân hàng gửi tiền:“Ở Đại lục, họ chỉ cho tôi căn nhà trị giá 200.000 tệ. Đây đúng là nơi để đào vàng!”.

Bài học đắt giá

Thế nhưng, xứ sở phồn vinh ấy giờ đây chỉ còn trong ký ức. Hiện tại, Hồng Kông chỉ sản xuất chưa đến 70 phim/năm, rất nhiều trong số đó chết yểu vì không có người xem. Hơn 100 rạp ngày trước giảm xuống chỉ còn khoảng 40 rạp và ngày càng ít dần đi. Các du khách thậm chí còn không tìm thấy rạp phim nào ở những quận lớn như Đại Bộ. Những hãng phim lớn ngày trước lần lượt phá sản. Ảnh hưởng của điện ảnh Hồng Kông hiện tại, một cách cay đắng, lại nằm ở quá khứ: Di sản to lớn về phong cách làm phim đến rất nhiều thế hệ đạo diễn.

Có rất nhiều lý do dẫn đến sự sụp đổ này. Điểm mốc là năm đen tối 2003, với đại dịch SARS khiến rất nhiều rạp phim phải đóng cửa. Bên cạnh đó, là cái chết của hai ngôi sao hàng đầu Trương Quốc Vinh và Mai Diễm Phương.Đáng buồn rằng, đây lại là năm chính quyền Hồng Kông quyết định mở “Đại lộ ngôi sao” ở khu Tiêm Sa Thủy, lấy hình mẫu từ Đại lộ Danh vọng ở Hollywood, nhằm thúc đẩy công nghiệp điện ảnh phát triển trở lại. Giấc mơ đã về một bản sao Kinh đô Ánh sáng đã không thành hiện thực.

Nhiều người tin rằng, việc trở thành đặc khu kinh tế của Trung Quốc từ năm 1997 là nguyên nhân chính. Khi ấy, Đại lục đã hứa hẹn về “chế độ tự trị cao” và “không có nhiều thay đổi” nhưng rõ ràng, sức ảnh hưởng là không thể tránh khỏi. Như một phép nhân quả, các tài năng lớn nhất của Hồng Kông lần lượt bị kéo về lại Trung Quốc, nơi có thị trường màu mỡ và nguồn vốn cao hơn. Châu Tinh Trì là một minh chứng rõ nét nhất.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia phương Tây, kết cục thảm khốc nàycòn là hệ quả của một hướng đi sai lầm lâu dài. Cây bút Grady Hendrix, người nhiều năm tổ chức LHP Châu Á New York, nhận định: “Hãy nhìn vào thập kỷ1990, Hồng Kông chỉ có 9 triệu người nhưng sản xuất đến 150 phim mỗi năm. Họlàm quá nhiều phim với chất lượng tồi. Cái bong bóng đã tích tụ và nổ, với sức công phá hủy diệt”. Đây là bài học cho bất kỳ nền điện ảnh đang lên nào.

Lật một trang mới

Ở tuổi 65, State Theater là rạp phim lâu đời nhấtvà là rạp phim cuối cùng thời hậu Thế chiến 2 của Hồng Kông. Đầu năm 2017, trước sự kêu gọi của nhiều nhân vật tên tuổi, rạp đã được trùng tu chút ít. Tuy nhiên, với áp lực từ thị trường bất động sản khốc liệt, việc nó phải nhường chỗ cho các công trình quan trọng hơn chỉ là vấn đề thời gian. Trừ khi, điện ảnh Hồng Kông có thể hồi sinh trở lại như thời hoàng kim, để các rạp phim thu đủ số vé đảm bảo cho sự sống tự thân.

Điều này, theo các nhà phân tích, gần như không thể xảy ra. Không phải vì thiếu sự đầu tư hoặc các tài năng mới. Để cứu vãn ngành công nghiệp, chính quyền Hồng Kông đã lập ra nhiều quỹ hỗ trợ làm phim. Một vài đạo diễn vẫn cho ra đời các tác phẩm gây tiếng vang, như: Infernal Affairs (Vô gian đạo, 2002) của Lưu Vĩ Cường và Mạch Triệu Huy, hay Election (Tranh giành quyền lực, 2006) của Đỗ Kỳ Phong. Nhưng xu hướng chính và gần như không thể ngăn cản, là sáp nhập điện ảnh Hồng Kông và Đại lục. Trong một thập kỷ qua, các tác phẩm hợp tác giữa các hãng sản xuất phim Hồng Kông với diễn viên Trung Quốc và ngược lại ngày càng trở nên phổ biến, đạt được nhiều thành công. Tất cả đang hướng đến việc xây dựng một nền điện ảnh Hoa ngữ thống nhất.

Lối thoát duy nhất, nếu có, không phải là cứu vãn các giá trị cũ, mà là tạo nên những giá trị mới. Các phim đoạt giải Kim Tượng – giải thưởng điện ảnh Hồng Kông – gần nhất đều là những phim phản ánh tình hình chính trị căng thẳng trong nước: Gallants (Đả lôi đài, 2010), A Simple Life (Đào tỷ, 2011), Cold War (Chiến tranh lạnh, 2013). Tác phẩm đoạt giải năm ngoái, Ten Years (Mười năm) gây chú ý vì miêu tả trực diện những mâu thuẫn của người dân với chính quyền Bắc Kinh. Những bộ phim này nắm bắt được sự hoang mang trước hiện thực bấp bênh,nỗi khát khao tự trị, do đó, chạm được vào sự đồng cảm trong lòng khán giả địa phương.

Dù vậy, nền điện ảnh của những tác phẩm hiện thực ấy chắc chắn sẽ rất khác thời kỳ vàng son ngày trước. Giống như rạp chiếu bóng State Theater, một thứ di sản đã hoàn thành vai trò lịch sử của nó, điện ảnh Hồng Kông của hôm nay và ngày mai sẽ là một trang mới.

HOÀI NAM

Không chỉ điện ảnh, truyền hình Hồng Kông cũng đang ở vào giai đoạn thoái trào, chứng kiến một cuộc “tháo chạy” của giới làm phim sang Trung Quốc. Đài TVB lừng danh, với rất nhiều series ăn khách như:The Greed of Man (Đại thời đại, 1992), Detective Investigation (Hồ sơ trinh sát,1995), War and Beauty (Thâm cung nội chiến, 2004)… vừa thông báo về cuộc khủng hoảng nhân sự nặng nề nhất trong 40 năm qua.

Đại lộ Ngôi sao của Hồng Kông hiện tại có tổng cộng 107 tên tuổi. Các nhân vật được vinh danh có một ngôi sao gắn trên con đường, bên cạnh ngôi sao là chữ ký, dấu tay của người đó. Đợt “phong sao” gần nhất là vào năm 2012.

Bài viết được đăng trên Báo Sinh Viên Việt Nam số 36, phát hành ngày 11/09/2017:

To Top