GIỚI TRẺ

Trên “đại lộ kinh hoàng”

Quê cha ở Quảng Trị, ngay vùng chiến tranh ác liệt nhất. Năm 1972, cha còn là một cậu trai trẻ thư sinh đam mê học tập, đã phải cùng người già, em nhỏ… bỏ làng xóm chạy bộ giữa hai làn đạn, những tiếng bom gầm vang.

Sau này, sống trong một vùng kinh tế mới yên bình Nam Trung Bộ thì ký ức xóm làng, chiến tranh vẫn chực ùa về khi có người họ hàng xa vào thăm. Ngay cả ông nội, trước khi mất, cũng chỉ muốn về làng, dù trí óc ông bị lẫn, quên hết mọi thứ.

Bạn tôi, hôm trước mở YouTube cho bà của bạn xem cảnh tượng được phóng viên chiến trường ghi lại năm 1972, cảnh người làng bồng bế nhau bỏ làng chạy, trẻ con nheo nhóc đói rách trơ xương, đường đầy máu, người băng qua xác người tìm đường sống… Như khơi lại ký ức, bà khóc, nước mắt lưng tròng.

Câu chuyện cha ông bên bàn trà, đám tiệc vùng kinh tế mới thường khơi lại kỷ niệm cố hương, ở mọi ngóc ngách: Sân bóng, bãi sông, nương rẫy, bạn bè… Những dấu ấn tuổi trẻ của người già như được đóng đinh trong tâm trí. Sau mỗi câu chuyện là một câu kết, kèm tiếng thở dài: “Hồi đó, cực da diết!”. Nhưng bên cạnh đó, cũng có nhiều câu chuyện cười. Cười, tấu hài như một “đặc sản” để quên đi thực tại buồn thương cơ hàn.

Làng thế nào? Vì sao người lớn lại thích về làng? Về làng để làm gì? Những câu chuyện rổn rảng của người lớn đặt ra cho trẻ nhỏ sau chiến tranh như chúng tôi những thắc mắc.

Làng không xa như trước đây, khi phương tiện giao thông đã phát triển phần nào. Chỉ hơn một giờ bay và hơn một giờ xe hơi. Làng hiện ra trước mắt với cái nóng ran ngày Hè. Có quá nhiều ngôi làng nhỏ. Những con đường bê tông nối nhau chằng chịt, nối liền các cánh đồng lúa và kênh rạch nước trong vắt. Mỗi làng chừng hơn trăm hộ, đánh dấu bằng một chiếc cổng làng nhỏ. Làng thấp thoáng sau lũy tre, khiêm tốn và lặng lẽ. Có lẽ, nó quá nhỏ bé, không giống với tưởng tượng của đứa cháu chưa một lần trở về.

Người lái xe đón tôi từ sân bay là anh họ hàng. Trên đường về làng, anh kể về “đại lộ kinh hoàng”. Khi ấy, anh còn là cậu bé 8 tuổi, đạp xe để chạy tránh đạn. Đạp không nổi, anh vứt xe chạy bộ. Hai bên đại lộ, đạn pháo gầm vang, xâu xé mạng người. Cảnh tượng kinh hoàng, xác người chất đống, không đếm xuể. “Ngay cây cầu này đây!” – anh chỉ, vẻ mặt trầm ngâm. Nghe nói, anh chạy bộ vào đến Huế, lưu lạc gia đình. Sau khi tiếng súng ngưng hẳn, anh mới tìm được người thân. Còn làng của cha ông, sau chiến tranh trở về, bị san phẳng, nước sông dâng lên cao, mang những gốc cỏ nước phủ lên um tùm hoang vu, như chưa từng có sự tồn tại của tiếng người í ới gọi nhau làm đồng, trai gái hò hẹn bên bờ đê hay những trận cầu mã thượng giữa sân bóng làng,…

Họ hàng ở quê của tôi vẫn còn vài hộ, còn người làng thì nhiều vô kể. Họ hàng còn khó khăn lắm nhưng ai cũng vui, niềm nở vì đứa cháu phương xa biết nguồn cội tìm về. Ông bác đã 82 tuổi, dẫn tôi đi qua nhiều đoạn đường cong, đẹp và yên bình. Cổng làng hiện ra, kế đến là những ngôi mộ tiền nhân đã xanh cỏ, những mái đình hương khói tổ tiên, chi, phái… Nguồn gốc của tôi chưa một lần biết đến, hiện ra trực quan. Những ông tổ đầu tiên đến vùng đất này từ đâu tới? Vì sao những ông tổ đến vùng đất này không mang theo bà mà chỉ mang theo một hoặc hai con trai?… Tất cả những câu hỏi đó được bác giải thích cặn kẽ, rành mạch. Câu chuyện người làng sống trong chiến tranh thế nào, cũng được bác hồi tưởng, chi tiết, phân tích rạch ròi.

Ít ai ngờ, một vùng đất khô cằn, yên bình và nhỏ bé như thế lại từng một thời hứng chịu đau thương, tang tóc kinh hoàng. Mỗi một góc đường, lũy tre nơi đây đã phải chứng kiến con người bị đẩy vào những lựa chọn sống còn. Lịch sử đã chọn nơi đây và tôi tin chắc rằng, nơi đây chắc chắn chẳng muốn chọn lịch sử đau buồn ấy. Vì giữa tất cả các cuộc chiến, phần thiệt thòi bi thương luôn thuộc về người dân chân đất.

Trên con đường được mệnh danh “đại lộ kinh hoàng” ngày trở về, tôi đã hiểu vì sao đời cha chú tôi chỉ có một ước ao được đưa những đứa trẻ lớn lên ở vùng kinh tế mới trở về làng một lần. Nơi xứ sở đó, đạn bom đã san phẳng làng, cỏ dại đã mọc lên nhưng không thể phủ che được những ký ức, mối liên kết huyết thống và tâm linh của con người. Tôi hiểu rằng, con người sẽ mất nửa cuộc đời, nếu khuyết mất phần ký ức và nguồn cội.

 XUÂN HUY

Bài viết được đăng trên Báo Sinh Viên Việt Nam số 33, phát hành ngày 21/08/2017:

 

 

 

To Top