GIẢI TRÍ

Trả lời trước, đặt câu hỏi sau

Gần như mọi phim bi kịch gia đình hay nhất đều bắt đầu bằng một chuyến tàu. Bởi lẽ, khó hình ảnh nào nhiều sức gợi hơn một chuyến tàu ký ức, đưa nhân vật về lại chốn cũ, để đối mặt với bí mật khiến anh ta ra đi. Không là ngoại lệ với In My Father’s Den (Trong tổ ấm của cha), bộ phim tâm lý ám ảnh của New Zealand, năm 2004.

Căn phòng bí mật

Trên chuyến tàu là Paul (Matthew Macfadyen), một phóng viên chiến trường danh tiếng, trở lại quê hương sau 17 năm xa cách. Lý do đủ sức thuyết phục người ta quay về sau chừng ấy năm là một đám tang. Nép mình sau cánh cửa nhà thờ, Paul lặng lẽ nhìn vị cha xứ đọc những lời cuối cùng tiễn đưa cha anh: “Phần khổ đau của ta là hối tiếc về những việc ta đã làm, hoặc chưa làm, những lời đã nói, hoặc chưa nói…”. Bi kịch của gia đình Paul được hé lộ từng chút một sau đó, bắt nguồn chính từ những sai lầm ấy.

Sau lễ tang, Paul ghé thăm gia đình anh trai Andrew (Colin Moy), gặp gỡ gượng gạo người chị dâu Penny (Miranda Otto) và cậu cháu trai. Có vẻ còn giận vì em trai bỏ đi biền biệt, Andrew thông báo rằng, Paul phải ở lại giúp đỡ gia đình bán ngôi nhà cũ. Vốn định rời đi thật nhanh nhưng Paul đổi ý. Có một nơi anh muốn thăm lại trong ngôi nhà ấy: Căn phòng bí mật của hai cha con ngày Paul còn bé, nơi bị lấp đầy bởi các giá sách, những món đồ lưu niệm cũ và những kỷ niệm hạnh phúc hiếm hoi của tình phụ tử.

Nhưng rồi, ngày càng có nhiều thứ giữ chặt anh lại với thị trấn hẻo lánh này hơn. Paul gặp lại một giáo viên ngày trước, người hứa sẽ cho anh một công việc ở trường, nếu muốn. Anh chạm mặt người yêu cũ Jackie (Jodie Rimmer), đã qua một đời chồng và hiện nuôi con một mình. Nhưng sợi dây trói chặt nhất chính là Celia (Emily Barclay), con gái của Jackie. Một cô bé với tâm hồn tự do, cảm mến Paul qua các bức ảnh chiến trường khốc liệt và tìm cách kết bạn với anh. Càng tiếp xúc với Celia, Paul càng cảm thấy thân thuộc. Tài năng văn chương và ước mơ khám phá thế giới mãnh liệt của cô bé gợi Paul nhớ về chính mình ngày trẻ.

Một ngày nọ, trong căn phòng bí mật, Paul tìm thấy bức ảnh một đứa bé sơ sinh, dường như là Celia. Ngày tháng ghi trên ảnh cho thấy là tám tháng sau khi anh bỏ đi. Sững sờ, Paul tìm đến Jackie để xác nhận sự thật nhưng bị cô tránh né. Cùng lúc đó, những ký ức bi thương về người mẹ tự sát bắt đầu trở lại hành hạ anh. Có phải Celia là con gái Paul? Có phải mất đi người mẹ là lý do khiến anh trốn chạy? Còn điều gì đang che giấu trong căn phòng ấy? Khi những câu hỏi vừa được gợi lên, Celia bỗng biến mất.

Chân thực và biểu tượng

Chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Maurice Gee, In My Father’s Den có cấu trúc điển hình của thể loại bi kịch gia đình phương Tây. Kiểu mà Quentin Tarantino gọi là “Trả lời trước, đặt câu hỏi sau”. Nhân vật đi từ chứng kiến hậu quả ở hiện tại đến truy ngược nguyên nhân trong quá khứ. Luôn có một cú “twist” lớn đặt ở cuối phim, chờ đợi mở ra. Còn quá trình là một công cuộc bóc tách các lớp lang tâm lý phức tạp. Thành bại của phim phụ thuộc hoàn toàn ở khả năng dẫn dắt và đào sâu con người đến đâu của đạo diễn.

Brad McGann, ở tác phẩm đầu tiên và duy nhất chỉ đạo, làm điều đó bằng cách tạo ra một không gian vừa chân thực, vừa mang tính biểu tượng. Căn phòng của cha con Paul là thứ kết nối tất cả sự kiện và nhân vật trong phim. Nó là lý do mà Paul lưu lại thị trấn, là nơi lần đầu tiên anh gặp Ceila. Một cách tự nhiên, cô bé bị căn phòng hút vào, như thể định mệnh. Trong quá khứ, đây là nơi cha của Paul uống rượu, tránh khỏi người mẹ trầm cảm cuồng tín. Đây cũng là nơi mà Paul và Jackie tìm đến để quan hệ. Trên tất cả, căn phòng là hiện trường của một tội ác khủng khiếp, vĩnh viễn phá hủy từng thành viên trong gia đình Paul.

Nhưng căn phòng đó cũng mang ý nghĩa của của một nấm mồ. Đó là nơi chôn vùi ước mơ tuổi trẻ của cả Paul và Jackie. Đó là nơi người cha nghiện rượu nhưng thân yêu của Paul chết đi, nhiều năm trước lễ tang thật sự của ông. Đó là nơi vĩnh viễn chấm dứt hy vọng sống của người mẹ. Sau 17 năm, Paul trở lại nấm mồ gia đình, để hoàn tất những gì anh đã từ chối ngày trước: Đắp lên nó những vốc đất cuối cùng.

Điều xuất sắc mà McGann làm được trong hành trình ấy là khắc họa thành công chân dung con người. Chúng ta không chỉ theo dõi mà còn thấu hiểu và đồng hành với họ. Dù là màn ra mắt, bộ phim cho thấy tư duy điện ảnh già dặn, lối sử dụng các chi tiết và kỹ thuật đầy kinh nghiệm của McGann. Nỗi cô đơn của Ceila – được thể hiện bằng câu chuyện về ngôi làng nọ bị mất đi biển – cả hiện lên với đầy chất thơ. Để hé lộ cuộc sống tù túng của người chị dâu Penny, McGann chỉ cần một cảnh làm tình không thành. Các lời thoại được sử dụng đắt giá trong những cảnh quan trọng luôn cho thấy một góc khuất nào đó của nhân vật. Mỗi khung hình đều chứa đựng điều gì đó để ta hiểu thêm về họ. Người xem trở thành kẻ khám phá.

Tội lỗi đáp đền

Khác với The Lord of the Ring (Chúa Nhẫn) hay The Hobbit (Người Hobbit), khắc hoạ thiên nhiên New Zealand đẹp đẽ hùng vĩ, trong In My Father’s Den, mọi thứ hiện lên ảm đạm và lạnh lẽo. Những thảo nguyên và cánh đồng trải dài đến chân trời dưới ống kính McGann không choáng ngợp lung linh, mà mênh mông buồn thảm. Đó là thiên nhiên nhuốm màu tâm trạng của Paul, được nhìn qua đôi mắt u sầu của anh. Chỉ một lần duy nhất, khi cơn mưa nặng hạt rơi xuống khu rừng, nơi mà Paul và Ceila chơi đùa, là mang đến nụ cười. Nhưng sau đó, dư âm nó để lại vẫn là nỗi xót xa, vì đó là lần duy nhất hạnh phúc tìm đến trong cuộc đời đau khổ của cả hai.

Nửa cuối của phim có đầy đủ các yếu tố hấp dẫn của thể loại: Những bí mật hé lộ, những màn cao trào phô diễn tài năng diễn viên và một cái chết bất ngờ. Nhưng điều lưu dấu lại trong ta không phải là các chi tiết giật gân, vốn đã được tiết chế rất tốt. Ta sẽ nhớ nhiều hơn đến không khí ám ảnh của phim, đến bi kịch của các nhân vật, đến sự ngây thơ con trẻ bị vẩn đục bởi sự độc ác của người lớn. In My Father’s Den có thể sánh vai với Mystic River (Dòng sông huyền bí, 2003) trong việc miêu tả sự hủy hoại của một sự kiện bi thảm lên tinh thần con người, suốt cuộc đời.

Để làm điều đó, luôn cần đến các diễn viên đủ thực lực. Matthew Macfadyen, với gương mặt hao hao John Cusack và lối diễn bi chuẩn mực, gánh vác được sức nặng của một vai chính. Anh sở hữu đôi mắt đáng giá của kẻ đã lạc mất linh hồn. Giọng Anh đặc sệt cũng được xử lý khéo léo, góp phần thể hiện sự lạc lõng của Paul trên chính quê hương mình. Phối hợp với Macfadyen là nữ diễn viên Emily Barclay giàu năng lượng và cuốn hút. Họ tạo nên mối liên hệ tình thân ấm áp tự nhiên trên màn ảnh, ngay cả khi chưa có gì rõ ràng. Sự ấm áp ấy đưa ta đi qua tất cả đau thương của phim, mà không dừng lại giữa chừng.

Thông điệp của In My Father’s Den rất rõ ràng: Con người không thể trốn chạy khỏi quá khứ. Bi kịch của gia đình Paul xuất phát từ việc họ đều quay lưng với tội ác, khi nó xảy ra. Người mẹ chọn cái chết để không phải chịu đựng. Người anh Andrew bị ám ảnh đến mức tạo nên một phiên bản gia đình cũ trong chính ngôi nhà mình. Paul rời khỏi quê hương, lao vào chiến trận nhưng khói lửa và sự tàn khốc của thế giới không thể xóa đi vết thương trong lòng anh. Để rồi cuối cùng, như một câu nói cũ: Tội lỗi của cha luôn quay trở lại và tất cả phải cùng trả giá. Một cái giá rất đắt.

HOÀI NAM

In My Father’s Den hiện vẫn giữ đánh giá 100% trên Rotten Tomatoes và nằm trong “Top 10 phim ăn khách nhất New Zealand”, năm 2004.

Dù có màn ra mắt thành công trong vai trò đạo diễn, rất đáng tiếc rằng, Brad McGann không thể thực hiện tiếp một phim nào nữa. Anh mất vào năm 2007 vì bệnh ung thư, ở tuổi 43.

Bài viết được đăng trên Báo Sinh Viên Việt Nam, phát hành ngày 10/07/2017:

 

 

To Top