GIẢI TRÍ

Lời từ giã bất ngờ

Khác với cầu thủ bóng đá, diễn viên hiếm khi nào tuyên bố giải nghệ. Họ không có bất kỳ giới hạn nào, tuổi tác, thể lực hay ngoại hình, mỗi thời kỳ đều có thể thích nghi. Không hiếm người đạt đến đỉnh cao ở tuổi ngoài 70. Vì thế, khi Daniel Day-Lewis tuyên bố chấm dứt sự nghiệp diễn xuất vào tuần trước, giới điện ảnh không khỏi bất ngờ.

Đỉnh cao tuổi 60

Đúng với phong cách ẩn dật của mình, Day-Lewis không xuất hiện trước công chúng. Người đại diện của ông chuyển lời: “Daniel Day-Lewis sẽ không còn làm việc với vai trò diễn viên nữa. Ông rất biết ơn các cộng sự và khán giả đã ủng hộ trong nhiều năm. Đây là quyết định riêng tư và ông sẽ không đưa ra bất kỳ bình luận nào”. Bộ phim cuối cùng của ông là Phantom Thread (Hiểm họa bóng ma), do người bạn và cộng sự lâu năm Paul Thomas Anderson đạo diễn, sẽ ra mắt vào dịp Giáng sinh năm nay.

Đây là tin khiến nhiều người ngỡ ngàng. Bộ phim gần nhất Lincoln (2012) đã đưa Day-Lewis vào lịch sử khi giành tượng vàng Oscar “Nam diễn viên chính xuất sắc nhất” lần thứ ba, điều chưa ai làm được. Năm năm trước đó là lần thứ hai chiến thắng, với There Will Be Blood (Sẽ đổ máu), do Anderson đạo diễn. Ở tuổi 60, nổi tiếng với việc giữ kín cuộc sống riêng và những giai thoại quanh lối diễn hoàn toàn hóa thân vào nhân vật, Day-Lewis vẫn đang ở trên đỉnh cao sự nghiệp.

Nhưng thật sự, có bao giờ nam diễn viên mang hai dòng máu Anh và Ai Len này không ở trên đỉnh cao? Day-Lewis bước vào màn ảnh rộng năm 1982, bằng vai phụ trong Gandhi. Anh nhanh chóng gây chú ý trong My Beautiful Laundrette (Laundrette của tôi, 1985), khi vào một vai đồng tính. Anh nhận giải “Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất”, do Hiệp hội Bình luận phim Mỹ bình chọn. Đến năm 1989, Day-Lewis bước lên đài danh vọng, với tượng vàng Oscar “Nam diễn viên chính xuất sắc nhất” đầu tiên, trong My Left Foot (Chân trái tôi). Đó cũng là lần đầu người ta chú ý đến lối diễn độc đáo của anh: Anh tự biến mình thành nhân vật Christy Brown, chỉ sử dụng được mỗi chân trái, mọi lúc. Các nhân viên đoàn phim phải đút cho Day-Lewis ăn bằng thìa và nâng anh vào trường quay từ xe lăn.

Kể từ đó, Day-Lewis được xếp vào hàng diễn viên Anh Quốc thành công nhất. Cùng với Gary Oldman, Tim Roth, Paul McGann, Bruce Payne, Spencer Leigh và Colin Firth, họ được gọi là The Brit Pack (Nhóm Ăng Lê), thống trị màn ảnh suốt hai thập niên 1980 và 1990. Nhưng nếu các tên tuổi kia đều ít nhiều tham gia các phim thương mại, chủ yếu ở thể loại hài lãng mạn ăn khách, Day-Lewis vẫn trung thành với các lựa chọn nghệ thuật khó nhằn. The Last of the Mohicans (Người Mohican cuối cùng, 1992), In the Name of Our Father (Nhân danh cha chúng ta, 1993) và The Boxer (Tay đấm, 1997) là 3 bộ phim được đánh giá cao kế tiếp trong thập kỷ 1990, mang lại cho anh thêm một đề cử Oscar (The Last of the Mohicans). Sau đó, Day-Lewis bỗng nhiên biến mất.

Một đẳng cấp khác

Để miêu tả vị thế của Daniel Day-Lewis trong điện ảnh, nhà bình luận Owen Gleiberman của Variety nói: “Có diễn viên sân khấu trước, rồi đến diễn viên điện ảnh và rồi là Day-Lewis”. Giống như việc là người duy nhất sở hữu 3 tượng vàng Oscar Nam chính, ông đứng ở một đẳng cấp riêng. Ông khiến các nhà nghiên cứu điện ảnh đau đầu trong việc phân loại. Họ luôn có thể xếp các diễn viên theo từng nhóm diễn xuất riêng, thường thuộc hai nhóm: Chú trọng biểu hiện bên ngoài kiểu Mỹ, như Marlon Brando, hay đào sâu vào nội tâm nhân vật kiểu Anh, của Laurence Olivier. Nhưng Day-Lewis rất khó để đặt vào một chỗ cố định nào đó. Ông là cả hai và không thuộc nhóm nào cả.

Day-Lewis trong phim Lincoln.

Day-Lewis nổi tiếng bởi những màn hóa thân triệt để, như trong The Left Foot. Gần như mỗi vai diễn của ông đều để lại một giai thoại. Trong The Last of the Mohicans, để vào vai một chiến binh sơn cước, ông đã đi vào rừng, tự lập trại và săn bắn để tồn tại trong hàng tháng trời. Với vai diễn tù nhân trong In the Name of the Father, Day-Lewis giảm đến 13kg, tự nhốt mình trong tù, ngay cả khi không có cảnh quay và bảo mọi người đổ nước lạnh vào người để cảm thấy bị hành hạ.

Nhưng vai diễn nổi tiếng nhất của ông vẫn là Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln, trong bộ phim của Steven Spielberg. Khi ấy, Day-Lewis đã cùng gia đình chuyển về xứ Wicklow ở Ai Len. Spielberg đã phải tự mình bay đến tận nhà Day-Lewis để mời ông tham gia dự án. Việc một diễn viên Anh vào vai Tổng thống Mỹ chắc chắn sẽ nhận chỉ trích nhưng Spielberg không có cách nào khác. Ông biết, chẳng có ai khác trên đời đủ sức đảm đương vai diễn nặng ký này. Trước sự vui mừng của vị đạo diễn, Day-Lewis đồng ý nhưng với điều kiện: Phải cho ông mộtnăm chuẩn bị. Dĩ nhiên, Spielberg gật đầu.

Một năm sau, khi Day-Lewis đến trường quay, tất cả mọi người đều sững sờ. Trước mặt họ chính là vị tổng thống, ở cả bề ngoài gầy ốm và dỏng cao, giọng nói đặc ngữ âm vùng Kentucky, cả phong thái điềm đạm, thu hút. Không ai biết quá trình chuẩn bị của ông diễn ra thế nào nhưng cảnh quay đầu tiên khi Lincoln có một bài phát biểu ngắn với các người lính thật sự là cú sốc. Biên kịch Tony Kushner nhớ lại: “Hàm của mọi người rớt hết cả trên sàn. Đó là điều tuyệt nhất tôi từng thấy. Bạn phải ở đó mới hiểu được, ngay giây phút ấy”. Từ lúc đó, Day-Lewis đã trở thành Lincoln và không “ra khỏi” nhân vật một phút nào trong suốt thời gian quay.

Diễn xuất là riêng tư

Sau khi Lincoln ra mắt, thành công ở cả nghệ thuật lẫn thương mại, có một câu đùa lan truyền trên mạng về cách Day-Lewis diễn xuất: “Ông ấy không thoát khỏi nhân vật, ông ấy chỉ cho nhân vật nghỉ ngơi”. Người ta thường cho rằng, Day-Lewis diễn theo lối “method acting”, lối diễn tìm cách hóa thân hoàn toàn vào nhân vật, cả cơ thể lẫn tâm trí. Nhưng ở Day-Lewis, có gì đó còn hơn thế nữa. Bạn có thể kể tên rất nhiều người xuất sắc theo trường phái này, như Leonardo DiCaprio, Christian Bale, Robert DeNiro… Nhưng khi đặt cạnh Day-Lewis, bạn có cảm giác ông luôn cách họ một “khoảng” nào đó. Rất khó để gọi tên nhưng đó chính là thứ khiến Day-Lewis đặc biệt.

Điều đó có thể giải nghĩa phần nào bằng những ký ức tuổi thơ ám ảnh của Day-Lewis. Là một đứa bé Do Thái và có phần ương bướng, cậu thường xuyên bị bắt nạt tại các ngôi trường Luân Đôn. Để tồn tại, cậu buộc phải học cách đổi ngữ âm trong giọng nói, cũng như vào một vai nào đó giữa đám đông. “Một đứa trẻ bình thường” là vai diễn đầu tiên của Day-Lewis, trong đời thật. Đó là nguồn gốc cho nhu cầu phải “trở thành một ai đó” mà ông từng nói đến sau này. Và là lý do khi lần đầu tham gia diễn xuất trong vở kịch trường ở tuổi 14, Day-Lewis miêu tả nó là “thiên đường”. Ông không diễn theo nghĩa trở thành người khác, mà biến nhân vật trở thành chính mình.

Nhưng lối diễn này không hề hoàn hảo. Nó cực kỳ thiếu hoàn hảo. Càng về sau trong sự nghiệp, thời gian giữa các vai diễn của Day-Lewis càng dài ra, từ 3 đến 5 năm. Nhiều người cho rằng, đó là thời gian ông cần để tạm biệt con người tạo ra từ vai diễn. Ông trở thành một kiểu Stanley Kubrick của giới diễn viên. Day-Lewis cũng không thể bước lên sân khấu kịch yêu thích được nữa, kể từ vai chính trong vở Hamlet, vào năm 1989. Khi ấy, ông đổ sụp xuống sàn ở cảnh Hamlet nhìn thấy hồn ma vua cha, khóc nhiều đến mức không thể tiếp tục. Về sau, Day-Lewis nói rằng, đã thực sự nhìn thấy hồn ma của cha mình lúc đó. Với điện ảnh, nơi có các khoảng nghỉ giữa các cảnh quay, ông có thể tiếp tục. Còn sân khấu kịch thì ông không thể.

Nhưng thời gian để chia tay một nhân vật có thể đã trở nên quá dài với Day-Lewis và ông quyết định giã từ sự nghiệp. Người thiệt hại, không ai khác, chính là khán giả và cả nền điện ảnh, với sự nuối tiếc được tờ The Vice thốt lên trong tít báo: Daniel Day-Lewis đã bỏ rơi chúng ta.

“Bỏ rơi” là từ chính xác. Nghề diễn, với Day-Lewis, là chuyện riêng tư, một mối quan hệ hai chiều. Khán giả hay bất kỳ điều gì khác chưa bao giờ có thể xen vào. Giống như cuối thập niên 1990, ông từng biến mất khỏi phim trường để làm thợ đóng giày ở Venice và chỉ được kéo lại bởi Martin Corsese, với Gang of New York (Băng đảng New York, 2002). Nhưng lần này, với thông báo chính thức như một phép lịch sự Hiệp sĩ, không ai có thể kéo ông lại được nữa.

HOÀI NAM

Daniel Day-Lewis là diễn viên duy nhất giành 3 tượng vàng Oscar, hạng mục “Nam diễn viên chính xuất sắc nhất”. Có 8 người giành được 2 tượng là: Marlon Brando, Gary Cooper, Tom Hanks, Dustin Hoffman, Fredric March, Jack Nicholson, Sean Peen và Spencer Tracy.

Ông được phong tước Hiệp sĩ bởi nữ hoàng Elizabeth II, vào năm 2014, nhờ những đóng góp to lớn cho nền điện ảnh Anh Quốc.

Bài viết được đăng trên Báo Sinh Viên Việt Nam số 26, phát hành ngày 03/07/2017:

To Top