THEO DÒNG THỜI SỰ

Đua nhau kiểm định giáo dục

Hàng loạt trường đại học đang làm hồ sơ để kiểm định chất lượng giáo dục của các tổ chức nước ngoài. Đây là điều bắt buộc trong thời hội nhập.

Đạt chuẩn 3 sao

Trường ĐH Nguyễn Tất Thành vừa tổ chức lễ đón nhận đạt tiêu chuẩn 3 sao theo tiêu chuẩn QS Stars của Tổ chức kiểm định QS, Vương quốc Anh. Tổ chức QS cung cấp hai loại hình đánh giá trường đại học chính: Xếp thứ hạng (Universities Ranking System) và gắn sao (Stars Rating). Theo định nghĩa của QS Stars, trường được xếp hạng 3 sao là trường đại học có danh tiếng trong nước, thương hiệu quốc tế nhất định, sinh viên tốt nghiệp được các nhà tuyển dụng chào đón. Hằng năm, tổ chức này đều đưa ra tốp 500 trường đại học hàng đầu thế giới. Thứ hạng của các trường trong bảng xếp hạng của QS là nguồn tham khảo hữu ích của sinh viên thế giới khi tìm kiếm về thứ hạng của một trường.

Trước đó, trường ĐH Tôn Đức Thắng cũng được Tổ chức kiểm định QS xếp hạng 3 sao. Có nhiều tiêu chí để gắn sao cho trường đại học, như: Tình hình có việc làm của sinh viên, dịch vụ hỗ trợ sinh viên, cơ sở vật chất, hợp tác quốc tế, nghiên cứu khoa học… Cao hơn mức 3 sao, Tổ chức kiểm định QS còn có mức 4 sao, 5 sao và ngoại hạng. Việc đánh giá, gắn sao này khác với việc xếp hạng trường đại học. Cụ thể, xếp hạng đại học là sự đánh giá vị trí và xếp hạng của trường đại học này và trường đại học khác. Trong khi đó, nếu đạt chuẩn của QS Stars ở ngưỡng nào, trường đại học sẽ được công nhận đạt chuẩn sao ở ngưỡng đó. Việc gắn sao có thời hạn và nếu đợt đánh giá sau, trên cơ sở đáp ứng các tiêu chí của trường, số sao của trường có thể giữ nguyên, giảm xuống hoặc tăng lên. “Năm 2014, trải qua các vòng kiểm định nghiêm ngặt của Tổ chức kiểm định QS với nhiều tiêu chí, như: Chất lượng đào tạo, tình trạng việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp, kết quả nghiên cứu, tính quốc tế hóa, sinh viên quốc tế, cơ sở vật chất, đóng góp xã hội, chứng nhận chất lượng, học bổng và các loại hình hỗ trợ sinh viên, trường ĐH Tôn Đức Thắng trở thành trường đại học công lập đầu tiên tại Việt Nam được công nhận xếp hạng quốc tế 3 sao theo chuẩn QS Stars. Trong đó, tiêu chí về cơ sở vật chất và hỗ trợ sinh viên được đánh giá với số điểm tuyệt đối 5 sao. Với việc được xếp hạng QS Stars không chỉ khẳng định vị thế và danh tiếng mà còn nâng cao giá trị bằng cấp của sinh viên đã và đang theo học tại trường”, GS. TS Lê Vinh Danh, Hiệu trưởng trường ĐH Tôn Đức Thắng nói.

Dua nhau

Sinh viên ngành Thanh nhạc, trường ĐH Nguyễn Tất Thành trong giờ học.

Tương tự, năm 2012, trường ĐH FPT là trường đầu tiên của nước ta được Tổ chức kiểm định QS xếp hạng 3 sao. Đến năm 2015, dù chưa đạt mức 4 sao như 24 trường khác trên toàn thế giới nhưng trường này đã tiến một bước dài khi nâng mức điểm từ 408 của năm 2012 lên 477. Trong đó, thành công lớn nhất của trường ĐH FPT là có đến 4 tiêu chí được Tổ chức kiểm định QS đánh giá với số điểm 5 sao. Theo bà Đỗ Thị Minh Thủy, Trưởng phòng Kiểm định chất lượng trường ĐH FPT, để đạt được chuẩn 3 sao cần 400 điểm, để được 4 sao cần 550 điểm. “Như vậy, theo phổ điểm của Tổ chức kiểm định QS, trường ĐH FPT đã đạt 3 sao rưỡi, một sự tiến bộ lớn khi năm 2012, trường chỉ vượt qua mốc 3 sao một chút. Điều này khẳng định lộ trình dần dần tiến đến 4 sao của trường ĐH FPT trong một tương lai không xa. Hoạt động quốc tế hóa tại các trường đại học tại Việt Nam hiện nay mới ở mức chập chững thực hiện. Vậy mà trong 3 năm trở lại đây, trường ĐH FPT đã tuyển sinh và duy trì được hơn 3% sinh viên quốc tế, tổ chức và tiếp nhận hơn 2% sinh viên trao đổi quốc tế so với tổng số sinh viên toàn trường. Bên cạnh đó, trường ĐH FPT có 2 hợp tác nghiên cứu và có bài báo với 4 trường quốc tế trong tốp 500 của Tổ chức kiểm định QS”, bà Thủy nói.

Còn trường ĐH Bách khoa, ĐHQG TP. HCM là nơi đầu tiên của Việt Nam đạt chuẩn kiểm định ABET của Hoa Kỳ đối với 2 ngành Khoa học Máy tính và Kỹ thuật Máy tính. Hai ngành học này được công nhận từ năm 2014 –2019, khi hết hạn thì trường sẽ được đánh giá lại. Trường ĐH Bách khoa bắt đầu kế hoạch hoàn thiện các tiêu chí theo tiêu chuẩn ABET từ năm 2008. Đến năm 2013, nhóm kiểm định viên của tổ chức này đã đến Việt Nam để thẩm định. Đến nay, ABET đã kiểm định chất lượng cho hơn 3.460 chương trình đào tạo của gần 700 trường đại học ở 28 quốc gia. Ở khu vực Đông Nam Á, có một số chương trình đào tạo ở các nước Singapore, Philippines và Indonesia đã được kiểm định bởi ABET. PGS. TS Phan Thanh Bình, nguyên Giám đốc ĐHQG TP. HCM cho biết, trong thời gian tới, đại học này sẽ tiếp tục thực hiện đánh giá ngoài nhiều chương trình theo chuẩn khu vực và quốc tế, như: AUN – QA, ABET, AACBS… để thúc đẩy việc nâng cao chất lượng đào tạo và nâng tầm đại học.

Con đường để hội nhập

Trao đổi với Sinh Viên Việt Nam, GS. TSKH Bùi Văn Ga, Thứ trưởng Bộ GD – ĐT cho rằng, nước ta đang gặp nhiều thách thức trong quá trình hội nhập quốc tế. Khó khăn đầu tiên là nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học còn thấp, chi phí đơn vị trên mỗi sinh viên bình quân mỗi năm chưa tới 500 đô la. Con số này so với các nước trong khu vực còn quá khiêm tốn, dẫn tới nhiều hệ lụy trong việc tạo điều kiện phát huy năng lực sáng tạo của sinh viên. Giảng viên phải thực hiện khối lượng giảng dạy lớn, không còn thời gian chăm lo cho công tác nghiên cứu khoa học nên hoạt động này trong các trường đại học rất hạn chế. Ngoại ngữ là công cụ quan trọng để tiếp cận thông tin, giao lưu và hội nhập quốc tế. Nhưng trình độ ngoại ngữ của giảng viên các trường đại học Việt Nam, nhất là tiếng Anh còn hạn chế khiến quá trình hội nhập gặp phải rào cản lớn. “Chúng ta cần đẩy nhanh tốc độ hội nhập quốc tế. Các trường cần chủ động tạo mọi điều kiện cần thiết để trao đổi sinh viên và giảng viên, tăng cường trao đổi học thuật với các nước trong khu vực và quốc tế. Bộ GD – ĐT đang phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội khẩn trương xây dựng khung trình độ quốc gia, hoàn thiện nghị định phân tầng, xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học, có chính sách thu hút các nhà khoa học, giảng viên ở nước ngoài về làm việc tại Việt Nam…”, ông Ga nói.

TS Phạm Thị Ly, Viện Đào tạo quốc tế, ĐHQG TP. HCM cho rằng, quốc tế hóa trở thành một áp lực không thể làm ngơ đối với sự sinh tồn của các trường đại học. Mọi nền kinh tế và xã hội, trong đó có thị trường lao động, đã trở thành toàn cầu hóa. Các trường đại học không thể hoạt động hiệu quả nếu chỉ đóng khuôn trong nước vì môi trường toàn cầu hóa đòi hỏi các trường phải kết nối xuyên quốc gia nhằm hiểu biết lẫn nhau, làm việc cùng nhau và tạo ra một thế hệ công dân toàn cầu mới. “Các trường đại học nước ta đã được quản lý và vận hành theo quan điểm của giới hàn lâm với nguồn tài trợ chủ yếu của Nhà nước. Giờ đây, tình thế đó không thể tiếp diễn. Các trường phải đáp ứng được đòi hỏi của nhiều bên liên quan. Trước hết là người học và gia đình họ, những người đã trả học phí và có quyền được nhận một kết quả xứng đáng. Bên cạnh đó, còn có các nhà tuyển dụng, những người tiêu thụ sản phẩm mà các trường tạo ra, các nhà làm chính sách… Mỗi bên có những yêu cầu khác nhau và quan niệm khác nhau về vai trò và trách nhiệm của các trường đại học. Vì vậy, các trường đại học phải xem lại ý nghĩa tồn tại của mình đối với xã hội và chứng minh rằng, trường là một tổ chức thiết yếu, không phải vì nó cấp cho người học một tấm bằng như một cái vé vào đời, bởi cái vé ấy đã và đang lạm phát, mà vì nó mang lại cho người học những trải nghiệm và những giá trị mà họ hầu như không thể có nếu không trải qua môi trường này”, bà Ly nói.

QUẾ SƠN

THÚC ĐẨY MẠNH MẼ TỰ CHỦ ĐẠI HỌC

Theo Bộ trưởng Bộ GD – ĐT Phùng Xuân Nhạ, sau 30 năm Đổi mới, chất lượng giáo dục có đi lên chứ không phải đi xuống nhưng so với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội thì chưa đạt. Nhìn tổng thể trong hệ thống giáo dục quốc dân, đáng báo động nhất có lẽ là chất lượng giáo dục đại học. Để có được chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển, Bộ GD – ĐT xác định thúc đẩy mạnh mẽ tự chủ. Trong đó, có các giải pháp về kiểm định chất lượng. Bộ sẽ áp dụng các tiêu chí kiểm định chất lượng của hệ thống giáo dục đại học ASEAN cho phù hợp với Việt Nam. Chất lượng giáo dục đại học có thể thấp, có thể thiếu nhưng không được lạc điệu. Do đó, các trường phải thay đổi cách giảng dạy theo hướng thực học, thực nghiệp. Các trường không chỉ dạy những gì mình có, mà phải dạy thị trường cần. Cần xác định rõ, một số trường đại học lớn đi theo định hướng nghiên cứu, phần lớn sẽ đi theo hướng ứng dụng thực hành. Sắp tới, Bộ sẽ củng cố Trung tâm Dự báo nhu cầu nghề nghiệp thị trường lao động để các trường làm cơ sở tham khảo khi định hướng chuyển đổi ngành nghề. Nhiều ngành chưa từng có thì phải đào tạo. Từ đó, mạnh dạn hội nhập quốc tế. Bộ cho phép nhập thẳng các chương trình quốc tế, nếu có cả giáo viên, phòng thí nghiệm kèm theo.

Bài viết được đăng trên Báo Sinh Viên Việt Nam số 47, phát hành ngày 28/11/2016:

SVVN_47

To Top