THEO DÒNG THỜI SỰ

Nhiều thay đổi trong đào tạo y dược

Sắp tới, việc đào tạo khối ngành Y Dược sẽ thay đổi để vừa phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, vừa phải tuân theo quy luật đào tạo Y khoa thế giới. Theo đó, sinh viên ngành này sẽ được chia làm 2 hướng đào tạo, rồi trải qua kỳ thi sát hạch riêng.

Thiếu cả chất và lượng

Ông Nguyễn Minh Lợi, Cục trưởng Cục Khoa học – Công nghệ và Đào tạo, Bộ Y tế cho biết, từ năm 2008 đến nay, số lượng các trường đào tạo trình độ đại học ngành Y tăng nhanh. Năm 2000, cả nước có 8 trường thì nay đã lên tới 24 trường. Tuy nhiên, trung bình, ở Việt Nam, chỉ có khoảng 8 bác sĩ/10.000 dân và 2,2 dược sĩ đại học/10.000 dân. Ngoài ra, tình trạng chênh lệch về số lượng, chất lượng và sự phân bố cán bộ y tế giữa các vùng miền thiếu đồng đều vẫn là một bài toán khó giải. Thậm chí, một số chuyên ngành như: Truyền nhiễm, Tâm thần, Xét nghiệm, Y tế Dự phòng… thiếu bác sĩ cả ở các bệnh viện trung ương và địa phương.

Sự chênh lệch về chất lượng dịch vụ y tế giữa các vùng miền đang là vấn đề lớn cần quan tâm, khi dịch vụ y tế ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, biển đảo còn ở mức độ thấp so với vùng đồng bằng, thành thị. Điều đó dẫn tới chỉ số về sức khỏe của người dân có sự chênh lệch lớn giữa các vùng miền. “Cơ chế kiểm soát chất lượng đào tạo khối ngành Y Dược chưa rõ ràng, mới ở mức kiểm định cơ sở đào tạo mà chưa tiếp cận đến chương trình đào tạo. Việc đánh giá sinh viên nặng về kiến thức, thay vì năng lực, kỹ năng thực hành. Công tác đào tạo sau đại học đang tồn tại hai hệ thống song song về nghiên cứu: Học vị thạc sĩ, tiến sĩ và khám chữa bệnh (Bác sĩ Chuyên khoa I, Bác sĩ Chuyên khoa II). Trong lĩnh vực cấp chứng chỉ hành nghề, chưa có cơ chế rõ ràng để kiểm soát chất lượng, khi không thi sát hạch, cơ chế giám sát đào tạo liên tục kém hiệu quả, không rõ ràng, không kiểm định…”, ông Lợi nói.

Theo Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tuyến, hiện nay, công tác đào tạo nguồn nhân lực y tế của Việt Nam đang đứng trước không ít những khó khăn, thách thức, từ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân, dân số tăng và già hóa, đòi hỏi chuẩn mực chăm sóc sức khỏe cao hơn… đến mô hình bệnh tật thay đổi theo xu hướng tỷ lệ các bệnh không lây nhiễm gia tăng liên tục ở mức cao. Ngoài ra, Việt Nam đã ký thỏa thuận khung công nhận lẫn nhau giữa các nước trong khu vực ASEAN về các lĩnh vực Y khoa, Nha khoa và Điều dưỡng, đòi hỏi phải công bố chuẩn năng lực cơ bản cho từng đối tượng và tổ chức cấp chứng chỉ hành nghề. Trong khi đó, thực trạng đào tạo nhân lực y tế của Việt Nam hiện bộc lộ nhiều bất cập.

Nhieu thay doi

Sắp tới, khối ngành Y Dược sẽ có 2 hướng đào tạo. Trong ảnh: Sinh viên ngành Điều dưỡng đang thực tập tại bệnh viện.

Chương trình đào tạo khối ngành Y Dược chưa hội nhập được với quốc tế. Thêm vào đó, chúng ta vẫn lẫn lộn giữa hệ hàn lâm với hệ thực hành. Các bác sĩ ở bệnh viện lâm sàng thì lại đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ. Chuẩn của các bác sĩ trưởng khoa đòi hỏi phải đào tạo hệ hàn lâm, trong khi đó, yêu cầu ở bệnh viện phải nghiêng về thực hành nhiều hơn. Hiện nay, sinh viên học Y Dược trong thời gian 6 năm, đi thực hành 18 tháng, rồi được cấp chứng chỉ hành nghề một lần và dùng suốt cuộc đời mà không qua thi cử. Điều này khác với nhiều quốc gia trên thế giới. Ngoài ra, chuẩn của giảng viên Y khoa Việt Nam vẫn chưa có. “Trong khi thế giới đào tạo bác sĩ trong khoảng 12 – 13 năm, với hơn một nửa thời gian để thực hành thì Việt Nam chỉ đào tạo 6 năm, rồi chuyển về cho các bệnh viện. Tại Nhật Bản, sau 40 năm, mới có thêm một trường đại học được đào tạo bác sĩ. Trong khi ở nước ta, cả trường đại học đa ngành cũng được đào tạo bác sĩ. Chưa kể, với nguồn tài chính hiện nay, các trường Y Dược chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư trang thiết bị phòng thí nghiệm, cơ sở thực hành đáp, ứng yêu cầu học tập của sinh viên”, bà Tiến nói.

Nói về tình hình đào tạo khối ngành Y Dược tại Việt Nam, GS Lincoln C. Chen, ĐH Harvard (Hoa Kỳ) cho rằng, điều quan trọng nhất là cần xác định mục tiêu đào tạo Y khoa theo hướng hàn lâm hay khám, chữa bệnh. “Nếu là định hướng khám, chữa bệnh thì cơ sở thực hành cho sinh viên Y khoa tại Việt Nam là vấn đề đáng lưu tâm và cần phải được chuẩn hóa về giảng viên và khả năng tiếp nhận sinh viên thực hành của các bệnh viện”, GS Chen nhận xét.

Đào tạo theo mô hình mới

Theo ông Nguyễn Minh Lợi, để chuẩn hóa cán bộ, đáp ứng nhu cầu hội nhập trong khối ASEAN và các nước trên thế giới, Việt Nam đã ký thỏa thuận khung công nhận lẫn nhau giữa các nước trong khu vực ASEAN về các lĩnh vực Y khoa, Nha khoa và Điều dưỡng. Đồng thời, đòi hỏi các nước phải công bố chuẩn năng lực cơ bản cho từng đối tượng và tổ chức cấp chứng chỉ hành nghề. “Thời gian tới, Bộ Y tế đề xuất mô hình đào tạo mới. Trong đó, Bộ Y tế sẽ quản lý hệ hành nghề khám chữa bệnh, cấp bằng Cử nhân Y khoa, chứng chỉ hành nghề… còn Bộ GD – ĐT sẽ quản lý hệ nghiên cứu”, ông Lợi nói.

Hiện nay, Bộ Y tế đã đề xuất lên Chính phủ một mô hình đào tạo Y đa khoa theo mô hình 4 + 2. Theo đó, sau khi hoàn thành 4 năm học tại trường, sinh viên sẽ được cấp bằng cử nhân Y khoa. Tiếp đó, những người muốn học tiếp sẽ phân thành 2 hướng: Hệ hành nghề khám chữa bệnh, do Bộ Y tế quản lý và hệ nghiên cứu, do Bộ GD – ĐT quản lý. Những người không muốn học tiếp có thể trực tiếp tham gia thị trường lao động. Đối với những người lựa chọn hướng hành nghề khám, chữa bệnh, sẽ học thêm 2 năm để được cấp bằng Bác sĩ Đa khoa. Tuy nhiên, những sinh viên được cấp bằng này vẫn chưa được hành nghề mà cần phải trải qua thêm một năm tiền hành nghề tại các bệnh viện. Kết thúc thời gian thực hành, sinh viên tiếp tục trải qua kỳ thi cấp chứng chỉ hành nghề phạm vi đa khoa. Những sinh viên được cấp chứng chỉ này mới được bắt đầu hành nghề. Để trở thành bác sĩ chuyên khoa, các bác sĩ Y khoa sẽ phải học và thực hành tại các bệnh viện thêm 2 – 3 năm, rồi thi cấp chứng chỉ hành nghề phạm vi chuyên khoa. Tiếp đó, để trở thành bác sĩ chuyên khoa sâu thì các bác sĩ phải học và thực hành tại các bệnh viện thêm từ 2 năm trở lên và thi cấp chứng chỉ hành nghề một lần nữa.

Những sinh viên lựa chọn hướng nghiên cứu do Bộ GD – ĐT quản lý thì phân thành 2 giai đoạn: Thạc sĩ, đào tạo 2 năm và nghiên cứu sinh, đào tạo 3 – 4 năm, lấy bằng tiến sĩ. Kỳ thi cấp chứng chỉ hành nghề phạm vi đa khoa do một tổ chức độc lập thực hiện, chứ không phải do các trường đại học tổ chức thi. “Hiện nay, các trường đại học tổ chức thi theo cách lý thuyết hoặc lý thuyết lâm sàng, chứ chưa phải là đánh giá năng lực. Như vậy, điểm cao phụ thuộc vào việc thầy cho điểm dễ hay khó. Trong thời gian tới, chúng tôi dự kiến xây dựng bộ ngân hàng đề thi quốc gia, theo hướng đánh giá năng lực, yêu cầu các trường “áp” bộ ngân hàng đó để mà thi. Qua đó, sẽ thấy trường nào đào tạo năng lực thật, trường nào chủ yếu lý thuyết mà năng lực không có mấy”, ông Lê Quang Cường, Thứ trưởng Bộ Y tế cho biết.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho rằng, nhân lực ngành y tế không chỉ yếu về chất lượng mà còn thiếu về số lượng so với quốc tế. Vì vậy, ngoài việc đảm bảo chất lượng thì cũng phải tăng cường số lượng bác sĩ để địa phương nào cũng có bác sĩ giỏi, không xảy ra tình trạng thiếu bác sĩ và cần chỉ định thống nhất các bệnh viện tham gia công tác đào tạo. Việc đổi mới công tác đào tạo nhân lực y tế của Việt Nam là một quá trình lâu dài, cần sự chỉ đạo thống nhất của cơ quan quản lý. “Bộ Y tế, Bộ GD – ĐT, Bộ Nội vụ cần phối hợp chặt chẽ trong xây dựng các văn bản quy định liên quan đến đặc thù đào tạo nhân lực y tế để nâng cao chất lượng đào tạo, cũng như bảo đảm quyền lợi về ngạch, bậc lương cho nhân lực ngành y tế, với quan điểm tôn trọng lịch sử về phần bằng cấp nhưng năng lực đi theo bằng cấp cần được tiếp tục điều chỉnh, bổ sung”, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nói.

QUANG DUY

TP. HCM: 2.500 TỶ ĐỒNG XÂY DỰNG CƠ SỞ 2, TRƯỜNG ĐH Y KHOA PHẠM NGỌC THẠCH UBND TP. HCM vừa kiến nghị Thủ tướng Chính phủ về chủ trương đầu tư dự án xây dựng trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch trong khu Y tế, tại xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, với tổng vốn đầu tư 2.500 tỷ đồng. Dự án nhằm mục tiêu xây dựng một trường đại học Y khoa hiện đại, có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu và cung cấp nguồn nhân lực y khoa: Bác sĩ Đa khoa, Bác sĩ Răng Hàm Mặt, Dược sĩ đại học, Cử nhân Điều dưỡng, Xét nghiệm… và đào tạo sau đại học có trình độ chuyên môn cao cho TP. HCM và một số tỉnh, thành phía Nam. Đồng thời, thu hút sinh viên không chỉ ở Việt Nam mà ở các nước trong khu vực Đông Nam Á và đáp ứng nhu cầu đào tạo của nhà trường, định hướng đến năm 2020, với tổng số 12.000 sinh viên. Thời gian thực hiện dự án: Từ năm 2016 – 2020. Trước đó, hồi tháng 4/2016, kỳ họp thứ 21 HĐND TP. HCM khóa VIII đã ra Nghị quyết số 07, thống nhất với danh mục một dự án nhóm A là xây dựng cơ sở 2, trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch, với tổng mức đầu tư là 2.500 tỷ đồng.

Bài viết được đăng trên Báo Sinh Viên Việt Nam số 40, phát hành ngày 10/10/2016:

biasv40

To Top