THEO DÒNG THỜI SỰ

Nên có chương trình đào tạo du lịch biển, đảo

Việt Nam có nhiều điều kiện phát triển du lịch biển, đảo, với vị trí địa lý, tài nguyên phong phú. Tuy nhiên, hiện tại, chưa có các chương trình đặc thù đối với du lịch biển, đảo mang tính chất chuyên môn hóa.

Nhiều tiềm năng

Theo PGS. TS Lê Anh Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Đào tạo, Bộ Văn hóa -Thể thao – Du lịch, Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi về biển, do nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, đường bờ biển dài 3.260 km, trải dài từ Bắc xuống Nam, hơn 2.770 đảo ven bờ, cùng nhiều bãi tắm đẹp từ Bắc vào Nam. Nước ta có khoảng 125 bãi biển lớn, nhỏ, với đặc trưng là nông thoải, nước trong và sạch. “So với các quốc gia khác trong khu vực, như: Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Singapore, Việt Nam có phần đa dạng hơn về tài nguyên du lịch biển”, ông Tuấn nói.

Cả nước hiện có 48 trường đại học, 43 trường cao đẳng, 40 trường trung cấp, 2 công ty đào tạo và 23 trung tâm đào tạo du lịch. Ngành Du lịch, Khách sạn và Nhà hàng ở hệ đại học đã được giảng dạy từ 25 năm trước, hệ sau đại học được triển khai từ sau năm 2000. Các quy định về mã ngành đào tạo đã được ban hành, với 4 chương trình ở hệ đại học, cao đẳng chuyên nghiệp, 6 nghề hệ cao đẳng và trung cấp nghề. Đội ngũ giảng viên, giáo viên được quan tâm nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm và ngoại ngữ. Tuy nhiên, đối với đào tạo liên quan đến du lịch biển, đảo lại chưa có các chương trình đặc thù. “Hầu hết là các chương trình đào tạo chỉ là bồi dưỡng ngắn hạn dành cho các nhân viên tại các ban quản lý các khu du lịch biển: Cứu hộ sơ cấp cứu, vấn đề an ninh an toàn, kỹ thuật lặn biển, bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp và văn hóa du lịch cho nhân viên các tàu du lịch… Hoạt động du lịch biển, đảo đang phát triển mạnh nhưng nguồn nhân lực lại không đáp ứng được”, ông Tuấn đánh giá.

Nen co

PGS. TS Võ Phước Tấn, Cố vấn hiệu trưởng trường CĐ Kinh tế Đối ngoại TP. HCM cho rằng, du lịch là một trong 8 ngành sẽ bị cạnh tranh gay gắt, khi nước ta gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN. Từ năm 2016, Thỏa thuận công nhận lẫn nhau về nghề của ASEAN sẽ có hiệu lực. Trong đó, du lịch là lĩnh vực đầu tiên chịu tác động từ thỏa thuận này. Nhân lực đang bị đánh giá là một trong những khâu yếu nhất của ngành du lịch Việt Nam. Không chỉ thiếu hụt nhân sự cao cấp mà ngay lực lượng lao động trực tiếp vẫn chưa đạt chuẩn theo yêu cầu. “Dưới tác động của Thỏa thuận công nhận lẫn nhau về nghề, Việt Nam sẽ chứng kiến một thị trường lao động đầy biến động nhờ vào cơ chế tự do dịch chuyển nhân sự du lịch. Đồng thời, người lao động có cơ hội nhận được mức lương tương xứng. Tuy nhiên, nước ta đang bỏ trống mảng đào tạo nhân lực cho du lịch biển, đảo. Do đó, người lao động Việt Nam sẽ bị đẩy ra khỏi lĩnh vực này”, ông Tấn nói.

ThS Nguyễn Thị Minh Ngọc, trường ĐH Văn hóa TP. HCM cho biết, năm 2000, số lượng lao động trực tiếp trong ngành du lịch các tỉnh ven biển là 62.813 người, chiếm 66,79% tổng số lao động du lịch toàn quốc. Năm 2010, số lao động này là 361.000 người, chiếm khoảng 75% tổng số lao động du lịch cả nước. Lao động trong ngành du lịch ở các địa phương ven biển ít được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ một cách có hệ thống. Trình độ nghiệp vụ, ngoại ngữ… chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của khách du lịch. Trong đó, lao động có trình độ đại học và trên đại học chiếm 9,7% còn sơ cấp, trung cấp, cao đẳng chiếm 51%, dưới sơ cấp là 3,9%… “Trong những năm qua, sự chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực du lịch chưa đảm bảo tính bền vững, quy mô còn nhỏ và chưa tương xứng với tiềm năng. Nhiều dự án nước ngoài với vốn đầu tư đến hàng tỷ đô la xây dựng các tổ hợp du lịch cao cấp vào Phú Yên, Bà Rịa – Vũng Tàu, Phú Quốc… đang gặp khó khăn bởi nguồn nhân lực không đáp ứng được yêu cầu. Điều này đòi hỏi cần có sự đầu tư thỏa đáng để phát triển nguồn nhân lực này”, bà Ngọc nói.

Cần cơ chế phù hợp

ThS Nguyễn Thị Minh Ngọc cho biết thêm, mục tiêu đến năm 2020, du lịch biển thu hút 22 triệu lượt khách quốc tế, 58 triệu lượt khách nội địa và thu nhập du lịch biển đạt trên 10 tỷ đôla, tạo khoảng 600.000 việc làm trực tiếp. Vì vậy, phải có cơ chế phù hợp đi liền với xã hội hóa mạnh để thu hút nhiều nguồn lực cho đào tạo du lịch, từ đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp đến đào tạo nghề. Như vậy mới có được một đội ngũ lao động đủ số lượng để chiếm lĩnh được những công đoạn mang lại giá trị gia tăng cao trong hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ du lịch phục vụ du lịch biển, đảo. “Chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch biển đảo sẽ là yếu tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh của chính quốc gia. Do đó, công tác đào tạo nguồn nhân lực phục vụ du lịch biển, đảo đủ tiêu chuẩn luôn đòi hỏi sự quan tâm và phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành chứ không chỉ riêng các trường. Cần tiếp tục đẩy mạnh đa dạng hóa các loại hình trường lớp, trung tâm bồi dưỡng du lịch, tổ chức xây dựng cơ sở đào tạo nghề với mô hình trường – khách sạn tại các địa bàn trọng điểm về du lịch của vùng ven biển”, bà Ngọc khẳng định.

ThS Nguyễn Duy Cường, khoa Du lịch, trường ĐH Văn Hiến nhận định, để thúc đẩy phát triển du lịch biển, đảo cần chú ý xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù, tạo sự khác biệt thu hút du khách. Đồng thời, cần xây dựng các sản phẩm du lịch phụ trợ, đa dạng hóa các dịch vụ du lịch biển qua đó giữ chân du khách. Bên cạnh đó, cũng cần chú trọng khâu quảng bá để tăng tính cạnh tranh cho du lịch biển, đảo của Việt Nam. Đồng thời, nâng cao nhận thức của người dân, cộng đồng và khách du lịch liên quan đến văn hóa, kỹ năng giao tiếp, trách nhiệm với môi trường trong quá trình tham gia hoạt động du lịch. Xây dựng những chương trình đào tạo, bồi dưỡng liên quan gắn kết chặt chẽ với du lịch biển, đảo và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo.

QUẾ SƠN

NHIỀU VẤN ĐỀ NAN GIẢI

PGS. TS Lê Anh Tuấn cho biết, đang có nhiều vấn đề còn đặt ra đối với đẩy mạnh phát triển bền vững du lịch biển, đảo như: Cơ chế chính sách, hoạt động xúc tiến quảng bá, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, vệ sinh môi trường… Thời gian qua, trong quy hoạch và đầu tư phát triển, nhiều điểm du lịch biển rất có giá trị, quy mô lớn nhưng không ít địa phương đã chuyển đổi mục đích sang phát triển các ngành công nghiệp nặng, dịch vụ cảng biển logistic… ảnh hưởng đến tiềm năng chung. Trong khi đó, các doanh nghiệp thường chỉ đầu tư khai thác những tài nguyên có sẵn, chưa sáng tạo trong phát triển sản phẩm du lịch, dẫn đến sản phẩm du lịch biển, đảo còn nghèo nàn, chưa đặc sắc…

Bài viết được đăng trên Báo Sinh Viên Việt Nam số 35, phát hành ngày 05/09/2016:

SVVN_35

To Top